08/11/2012: 1.Thư đi tin lại-Kỳ 5(Hoằng Hữu Nguyễn Văn Phú)-2.Bàn về vô ngã(HH Nguyễn Văn Phú)-

08/11: 1.Thư đi tin lại-Kỳ 5(Hoằng Hữu Nguyễn Văn Phú)-2.Bàn về vô ngã(HH Nguyễn Văn Phú)-
Category: Tôi Tìm Hiểu Đạo Phật
Posted by: Tbl Đọc: 5392 lần

 

THƯ ĐI TIN LẠI – Kỳ 5

Hoằng Hữu Nguyễn Văn Phú

33 – “Cành dương nước tịnh, biến sái tam thiên, tính không bát đức, lợi lạc nhân thiên …” . Đạo hữu hỏi tam thiên ấy là gì ? Ba ngàn hay ba trời ?” .Theo ý tôi, thì đó là “tam thiên đại thiên thế giới” . Phải nói từ đầu mới rõ . Theo quan niệm của đạo Phật, vũ…

… trụ có những gì ? Một thế giới gồm : 1 núi Tu Di, 1 mặt trời, 1 mặt trăng, 4 châu ở quanh núi Tu Di, 4 Thiên vương thiên ở lưng chừng núi Tu Di, 1 Đao lỵ thiên, 1 Dạ Ma thiên, 1 đâu suất thiên, 1 tha hóa tự tại thiên, 1 Sơ thiền thiên .

1000 thế giới như thế làm thành 1 tiểu thiên thế giới,

1000 tiểu thiên thế giới làm thành một trung thiên thế giới .

1000 trung thiên thế giới làm thành một đại thiên thế giới

Như thế thì một đại thiên thế giới gồm có : 1000 x 1000 x 1000 thế giới, tức là ba cái số ngàn nhân với nhau ( = 1 tỷ ) . Khi nói tam thiên đại thiên thế giới thì có ý nói :cái đại thiên thế giới này gồm “ba cái số ngàn nhân với nhau” thế giới, chứ không phải tam thiên là ba ngàn .

Các bạn có thể phê bình rằng cách nhìn ấy về vũ trụ không đúng . Đó là cách nhìn xưa rồi, nhưng có một ưu điểm là : xác nhận có nhiều thái dương hệ .

Chú thích: Bát đức là nhắc đến bát công đức thủy, nước có tám công đức (mát, ngọt, v..v…), nước cam lồ . Nhân thiên là nhắc đến hai cảnh giới người và trời (chư thiên).

34 – “Cha lành chung bốn loài “ dịch bốn chữ “Tứ sinh chi từ phụ “, đó là chỉ đức Phật Thích-Ca . “Thày dạy khắp trời người “ dịch ba chữ “Thiên nhân sư “, đó cũng là chỉ đức Phật Thích-Ca .

Đạo hữu hỏi : “bốn loài đó là loài nào ?” Xin thưa : là noãn sanh, thai sanh, thấp sanh và hóa sanh . Noãn sanh là sanh bằng trứng, như chim …Thai sanh là sanh bằng bào thai, như người …Thấp sanh là sanh nơi ẩm thấp, như các côn trùng …Hóa sanh là sanh ra do nghiệp lực mạnh, như chư thiên, địa ngục . Vãng sanh Tịnh độ thì do trong hoa sen nở mà ra : “Hoa nở thấy Phật (Hoa khai kiến Phật) “, đó là hóa sanh vậy .

……………………………………..

36 – Bây giờ người ta không dùng danh từ Đại thừa và Tiểu thừa nữa, thay thế bằng hai chữ Bắc Tông và Nam Tông . Đó là dựa theo địa lý : Phật giáo một mặt truyền bá về phương Bắc rồi sang phía Đông : Tây Tạng, Trung quốc, Cao Ly, Mông Cổ, Mãn Châu, Nhật Bản, Việt Nam . Và một mặt khác, truyền bá xuống phía Nam, sau qua phía Đông : Tích Lan (Sri Lanka), Miến Điện (Myanmar), Thái Lan, Mên, Lào và Nam Dương .

Tóm tắt sự khác biệt giữa hai tông như sau : 1/ Nam Tông : Trung tâm là Tăng, kinh sách là bộ A-hàm . Tu chứng : ngã không . Quả vị : La Hán . Thờ phụng :đức Thích-Ca .

2/ Bắc Tông : Trung tâm là Đại chúng . Kinh sách rất nhiều, kể cả bộ A-hàm . Tu chứng : ngã không và pháp không . Quả vị : Bồ-tát, Phật . Thờ phụng đức Thích-Ca và nhiều vị khác .

Trong một số kinh, chúng ta thấy có vài lời miệt thị tiểu thừa . Chắc chắn đó không phải là lời của đức Phật, vì một lẽ rất đơn giản là: thời đức Phật còn tại thế, đã làm gì có Tiểu thừa và Đại thừa ! Chắc là có người thêm vào .

Tối thượng thừa là gì ? Theo Tự Điển Phật học Hán Việt thì đó là : giáo pháp rốt ráo, cao nhất (chí cực) . Các tông phái đều lấy từ này để chỉ vào tông nghĩa của phái mình .

37 – Kệ do chữ kệ-đà nói ngắn . Kệ-đà do chữ Phạn Gàtha phiên âm ra . Cách phiên âm khác : Già-tha, già-đà .

Có khi kệ là một bài thơ ngắn(thường là 4 câu) để : 1/ ca tụng công đức chư Phật, chư bồ-tát . 2/ Tóm ý chính một bài kinh hay một đoạn kinh . 3/ Nói lên lòng tôn kính Tam Bảo .

Có khi kệ là một bài thơ dài để nói lại hay giải thêm một bài pháp . Nói là bài thơ dài hay ngắn nhưng trên thực tế không thấy âm vận rõ rệt {Kệ dịch là strophe, stanza }.

38 – Tam giao là Nho, Lão, Thích tức là Khổng giáo, Lão giáo, Phật giáo . Khi người nói “tam giáo đồng nguyên” là có ý bảo rằng ba tôn giáo đó cùng một nguồn (nguyên là nguồn). Nhưng nói vậy không có nghĩa là ba tôn giáo ấy là ba ngành của một gốc cây, nghĩa là xuất phát từ một gốc rồi sau tách rời nhau . Thật ra người ta muốn nói rằng cả ba tôn giáo ấy có một cách lý giải về vũ trụ tương tự với nhau . Đạo Lão dùng chữ Đạo, Đạo Khổng dùng chữ Thái cực, đạo Phật dùng chữ Phật tánh, ba thứ đó cùng là Tuyệt đối không thể nào dùng ngôn ngữ thông thường mà giảng ra được .

…Người Việt Nam, nói chung, chịu ảnh hưởng hoặc ít hoặc nhiều của cả ba tôn giáo đó.

Câu hỏi thứ nhì mà đạo hữu hỏi, xin xem tiếp theo đây .

39 – Ỏ nước ta, đời vua Đinh Tiên Hoàng, Phật giáo đã bắt đầu phát triển mạnh và có uy tín lớn, nhiều vị tăng học rộng, đức cao . Đầu triều Trần, Phật giáo vẫn vững mạnh, nhưng vì phát triển nhanh quá nên mang nhiều nhược điểm . Bắt đầu từ cuối triều Trần thì kém dần . Từ triều Lê (thế kỷ XV ) trở đi thì xuống nhiều, đạo Phật chỉ còn là một hình ảnh mờ nhạt của một tôn giáo uy tín của thế kỷ X – XIV . Đầu thế kỷ XX, có phong trào chấn hưng Phật giáo,tạm có kết quả, nhưng vì gặp chiến tranh nên chưa mang lại kết quả mong muốn . Ngày nay ra sao thì đạo hữu thấy rồi .

40 – Pháp ấn à gì ? Pháp có nhiều nghĩa, trong số đó, chữ Pháp với chữ P hoa là lời dạy của đức Phật Thích Ca (les Enseignements du Bouddha, the Buddha’ s Teachings . La Doctrine ) nói chung là đạo lý của đức Phật . Chữ pháp còn một nghĩa rất rộng là sự sự vật vật hữu hình và vô hình . Ấn là con dấu . Pháp ấn là con dấu Pháp, ý nói những lời dạy thực sự của đức Phật, như là con dấu đóng vào một tài liệu nào đó, một văn bản nào đó, để chứng tỏ rằng tài liệu đó, văn bản đó là xác thực . Hiểu rộng thêm, là pháp được thông đạt đến khắp nơi như đã có dấu ấn của quốc vương hay quyền uy chính thức .

Tam pháp ấn là : 1/ Vô thường . 2/ Vô ngã . 3/ Niết bàn .

Ngoài ra, người ta còn nhắc đến Thực tướng ấn (nói về bản thể của vạn pháp, bản thể ấy là Pháp tánh, là Không ).

Tam pháp ấn cộng thêm lý về Khổ được gọi là Tứ pháp ấn .

Chú thích : 1/ Bốn điều vô thường, khổ, không, vô ngã được gọi chung là tứ vô thường (vì chữ vô thường đứng trước chứ không phải bốn thứ ấy đều là vô thường ). Đó là bốn điều quan trọng nhất của giáo lý Phật giáo . Có một kinh ngắn nhưng quan trọng, tên là Kinh Pháp Ấn nói về ba pháp môn giải thoát

41 – 1/ Đạo hữu đã lẫn hai vị Thần Tú và Thần Quang . Thần Tú là vị Thượng Tọa làm việc nơi chùa Ngũ tổ Hoằng Nhẫn,là người làm bài kệ nhưng bị bài kệ của ngài Huệ Năng (lúc ấy giữ việc giã gạo trong chùa) át đi, sau Huệ Năng được Ngũ tổ tryền y bát . Còn Thần Quang là vị sư đến cầu đạo nơi sơ tổ Bồ-Đề-đạt-ma, sau được truyền y bát thành tổ thứ nhì, với tên là Huệ Khả . Ngài Thần Tú chủ trương tiệm (dần dần), ngài Huệ Năng chủ trương đốn (nhanh),hai phái thiền của hai ngài khác nhau .

2/ Người Bắc đọc là Tuệ, người Nam và Trung đọc là Huệ .

3/ Phật giáo Viẹt Nam chịu ảnh hưởng của cả ba tông : Tịnh độ tông, Thiền tông và Mật tông . Tịnh độ tông đông nhất, Mật tông ít hơn nhiều, Thiền tông đang phát triển .

(còn tiếp)………………………………………………………..

BƯỚC VÀO CỬA PHẬT-Quyển 1

Hoằng Hữu NguyỄn Văn Phú **

Đề tài ôn tập : Bài 36. BÀN VỀ VÔ NGÃ

Khi biết rằng tôi thường đi chùa thì các bạn già của tôi hay nêu ra một số vấn đề liên quan đến đạo Phật. Có người nói đến những điều không tốt trong tổ chức của một số chùa hay trong sinh hoạt của một số tu sĩ trong và ngoài nước; có người đưa ra vài đề nghị chấn chỉnh kỷ luật của tăng đoàn cũng như cách thức hoằng pháp và thủ tục lễ bái cho được thống nhất. Nói để mà biết thôi chứ tôi cũng chỉ là một người đi chùa như bao nhiêu người khác, làm gì có chút thẩm quyền nào. Nếu không kể vài lời phê phán khá nặng thì nói chung ai cũng mong Phật giáo đáp ứng được những mong mỏi của đại chúng vì dù sao cũng là tôn giáo của số đông người Việt Nam chúng ta. Hôm nay tôi không đề cập đến những ý kiến ấy mà chỉ xin đưa ra một vấn đề mà những vị có nghiên cứu kinh sách Phật – và ngay cả các bạn trẻ nữa – thường hay nêu ra: đó là thuyết vô ngã.
Thuyết Vô ngã là một hòn đá tảng để xây nền cho tòa nhà Phật pháp. Thật thế, khi tra cứu kinh Dhammapada tức là kinh Pháp Cú là một kinh rất được quý trọng trong Nam tông, phẩm Đạo, thì ba câu căn bản là Chư hành vô thường, Chư hành là khổ, Chư pháp vô ngã. (Có người gọi đó là Tam pháp ấn. Đa số các sách khác thì nói Tam pháp ấn là Chư hành vô thường, chư pháp vô ngã, Niết-bàn tịch tĩnh. Một tác giả nói rằng Tam pháp ấn là Không, Vô tướng, Vô tác). Theo Bắc tông, bốn chữ căn bản là Vô thường, Khổ, Không, Vô Ngã – gọi ngắn là Tứ Vô thường (vì chữ vô thường đứng trước).
Hiểu theo từng chữ thì vô là không, ngã là ta, vô ngã là không có ta. Mới nghe, thật là vô lý: chính mình đang sống, đang nói … mà lại bảo rằng “không có ta”. Người có đi chùa thì thắc mắc rằng: “không có ta thì ai tu, ai chứng; ai gây nghiệp, ai chịu quả báo; cái gì đi đầu thai; cái gì lên Niết-bàn, v.v… ? ”.
Tôi sẽ cố gắng nói vắn tắt vì thời giờ có hạn và xin thú thật, nếu có nhiều thời giờ thì cũng không đủ “vốn” đến trình bày một vấn đề “hóc búa” như vậy!
Vô ngã chỉ là một danh từ tạm dùng để chỉ một thứ gì sâu xa hơn, rộng rãi hơn, cần nghiên cứu kỹ chứ không thể gói gọn trong cái nghĩa chữ là “không có ta”.
Trong Phật học, một lý thuyết quan trọng vào bậc nhất là lý duyên khởi hay duyên sinh. Lý ấy xác nhận rằng bất cứ cái gì cũng phải do nhiều thứ hợp lại mà thành chứ không phải tự nó có. Nói theo chữ nhà Phật thì mọi pháp trên thế gian này đều do các duyên hợp lại với nhau mà thành. Nói ngắn nữa: mọi pháp không tự có mà đều do duyên sinh.
Khi đã nhận rằng cái gì cũng do duyên sinh tức là cái gì cũng phải tùy thuộc vào cái khác mà thành thì người ta nói thêm rằng cái đó không có tự thể, không có tự tính, không có cái gì là chính nó cả. Vì thế mới có chữ vô ngã. Vậy vô ngã là chẳng có tự thể, tự tính mà phải phụ thuộc vào cái khác.
Con người là một hợp thể gồm có năm uẩn là sắc, thọ, tưởng, hành và thức. Nói ngắn là con người gồm thân và tâm. Thân (sắc) là thứ sờ mó thấy được. Tâm (nói chung bốn thứ thọ, tưởng, hành và thức) không sờ mó thấy được, chỉ có tên mà thôi (danh). Vì thế mói có ba danh từ: ngũ uẩn (hay ngũ ấm), thân-tâm và danh-sắc.
Khi mình nói: ta hay tôi thì mình hiểu và người khác cũng hiểu mình định nói ai, không lầm lẫn được. Cái tôi ấy, cái ta ấy là cái cần thiết trong đời sống xã hội, đời sống cộng đồng. Nếu không thì lẫn lộn, sai lầm, lung tung, nát bét hết cả. Hãy lấy một câu trích trong kinh Thập Thiện : “Rốt cuộc không có ai là tác giả” nghĩa là “không có ai làm những việc ấy” và một câu khác trích trong sách: “Không có người đau khổ, chỉ có sự đau khổ”. Nếu hiểu những câu ấy một cách nông nổi thì rất nguy hiểm, vì kẻ cầm dao đâm người ta thì rõ ràng là thủ phạm rồi, sao lại nói không có ai? Nó thoát khỏi bàn tay công lý hay sao? Không, về phương diện xã hội, cộng đồng, thì thật là có kẻ cầm dao đâm người. Đạo Phật đâu có gàn dở đến mức bảo là không có kẻ phạm tội đâm người!
Thế thì đạo Phật bảo cái gì? Bảo rằng: cái ta, cái tôi, của ta, của tôi mà người ta vẫn nói hàng ngày là có, là hiện hữu nhưng nó có mà không thật. Tại sao? Vì nó không tự nó có mà phải do những cái khác hợp lại. Cái xe hơi đang đậu sờ sờ ở ngoài sân kia kìa, nó có đấy nhưng thật sự nó là do thùng, máy, bánh và nhiều thứ khác hợp lại. Cái thùng không phải là cái xe, cái bánh không phải là cái xe v.v… Danh từ xe hơi chỉ là một cái tên gọi cho tiện mà thôi. Có tên ấy mới mua xe, mới lấy giấy chủ quyền, mới đóng bảo hiểm, v.v… Vẫn là sự tiện dụng về phương diện xã hội. Có thế thôi.
Xe là thế, còn con người thì sao? Nghĩ cho kỹ thì thân không phải là Ta vì cái thân ấy thay đổi từng phút từng giây, không biết cái Ta hôm nay, cái Ta hôm qua, cái Ta lúc nhỏ … , cái nào là Ta thật? Tâm cũng không phải là Ta vì nó biến đổi nhanh như chớp. Hơn nữa, nếu bảo cái thân là Ta thì cái tâm không phải là Ta hay sao. Nếu bảo cái tâm là Ta thì cái thân không phải là Ta hay sao. Nếu bảo cả thân và tâm đều là Ta thì rõ ràng Ta là một hợp thể, mà hợp thể thì làm gì có tự thể cho nên vô ngã! Chữ ta, tôi chỉ là những danh từ tiện dụng trong xã hội mà thôi.
Đến đây, có thể quý vị thấy chán vì không thích nghe lý luận và quan niệm rằng lý luận nghe chơi là hý luận, mất thời giờ. Sự thật thì đạo Phật không sa đà vào lý luận xuông. Vô ngã là một điều mà ta cần nhớ và cần tìm hiểu để tu hành cho có hiệu quả.
Cách đây chừng một tháng, hòa thượng Thiện Siêu viên tịch tại Huế. Lúc sinh thời, ngài viết nhiều về Phật pháp. Khi được đọc một bài của ngài luận về vô ngã, chúng tôi thấy hay cho nên trích ra mấy đoạn để quý đạo hữu cùng thưởng thức:
“Đạo là con đường, nhưng đi trên con đường đạo không như đi trên đường cái. Đường cái dễ đi dễ đến, có khoảng cách rõ rệt, bao nhiêu cây số là bấy nhiêu thời gian tương ứng, có điểm khởi hành, có điểm đến hẳn hoi. Nhưng đường đạo thì không như thế. Khi bắt đầu tu gọi là khởi điểm, mà khởi điểm này ở tại Tâm. Tu hành gọi là đi, cũng chỉ trong một Tâm ấy, mà khi đạt đến đích giác ngộ, thì cũng ở một Tâm ấy chứ đâu khác.
Thế mà tại sao đi mãi vẫn không đến? Đó chính là vì cái Ta cứ ngăn chặn làm cho trễ nải, biếng nhác, sa ngã, bước được một bước thì bị lục căn lục trần xen vào kéo lui ba bước: để ta ăn cái đã, để ta ngủ cái đã, để ta coi cái đã, để ta nghe cái đã. Cái ngã chấp đó càng bành trướng càng gây tai họa. Ngã chấp của ta càng to càng dễ gây đụng chạm với cái ngã của người khác. Người khác cũng bồi bổ cái ngã của họ nên lại va chạm với ta…”.
Tiếp theo là đoạn này: “Có người hỏi thiền sư Duy Khoang: “Đạo ở đâu?”.
Sư đáp: “Đạo ở trước mắt”.
“Sao tôi không thấy?”, người ấy hỏi.
Sư đáp: “Vì ngươi đương bận nghĩ tới mình tới ta cho nên không thấy”.
“Còn Hòa thượng có thấy không?”.
Ngài đáp: “Hễ còn bận nghĩ tới ta, người thì không thấy”.
Người ấy hỏi tiếp: “Khi không còn nghĩ tới ta, người nữa thì có thấy không?”.
Ngài đáp: “Khi không còn có tâm phân biệt bận nghĩ tới ta, người nữa thì bấy giờ ai còn hỏi đạo ở tại đâu”.
Chúng ta rút ra được bài học sau đây : khi tu đến lúc đạt được tâm vô phân biệt thì còn ai hỏi Đạo ở đâu làm gì nữa. Nó ở ngay trong cái tâm của hành giả rồi!
Vài câu trên đây cho chúng ta thấy: muốn thấy Đạo thì tu cho hết cái Ta, không còn phân biệt ta và người. Hết cái Ta là một điều kiện để chứng Niết-bàn. Sách nói rằng Niết bàn không phải là một nơi chốn mà là một trạng thái của tâm. Lúc ấy chính là lúc diệt hết tham sân si, đạt được vô ngã và thoát sinh tử luân hồi.
Đối với những người căn cơ kém cỏi như chúng tôi, chúng tôi thấy rằng đọc các kinh sách, đọc các bài tham luận thì có thể hiểu phần nào nhưng về thực hành thì khó. Cho nên chúng tôi trộm nghĩ như sau này: chứng được vô ngã thì khó nhưng hàng ngày, chúng ta có thể thực hành chút ít, một chút ít thôi nhưng phải thực hành chăm chỉ liên tục. Chút ít cái gì? Chỉ cần quay vào trong xem xét chính mình. Mỗi khi tham hay sân nổi lên thì tự xét ngay; nếu không được như thế thì trước khi ngủ phải tự kiểm mình để sám hối và nguyện không phạm nữa. Bớt tham, bớt sân tức là dẹp cái ngã vậy. Hãy thực hành bố thí ba-la-mật, bố thí càng nhiều thì cái tham càng xẹp, tức là cái ngã lui dần đi. Sân cũng như vậy. Dẹp sân chính là dẹp cái ta. Tại sao tôi nói bố thí ba-la-mật? Vì theo đó, bố thí mà không biết người nhận là ai, của cho đáng giá bao nhiêu, không cầu mong phước báo. Nghĩa là không thấy kẻ cho, người nhận, không phân biệt ta, người.
Điều khó hơn là si, gốc ở vô minh. Vô minh lớn nhất là nhận cái thân xác này là ta, hay nhận cái tâm lăng xăng này là ta. Đó là cái ta giả. Suy nghĩ nhiều và liên tục thì bớt dần. Phật học gọi là quán.
Đạo Phật còn nói đến một cái ta nguy hiểm hơn, một cái ta không có mà mình tưởng là có. Cái ta ấy mình nghĩ rằng nó làm chủ thân và tâm của mình.
Trong cuốn sách nhan đề Vô Ngã, in năm 1990, đại đức Thích Trí Siêu (tục danh Hoàng Quốc Bảo, sinh năm 1962, tu tại Pháp), dặn rằng chúng ta cần phải phân biệt hai cái Ta: “ 1/ Một cái Ta dường như hiện hữu độc lập, tự tánh ( le Je intrinsèque) không tùy thuộc vào nhân duyên bên ngoài, giữ vai trò chủ động, sai khiển năm uẩn. 2/ Một cái Ta giả lập (le Je désigné) trên 5 uẩn để chỉ định, phân biệt, xưng hô cho một cá nhân trong môi trường xã hội, cộng đồng. Nó là một danh từ quy ước (convention) rất cần thiết cho đời sống hàng ngày, thuộc Tục đế (vérité relative)” … Cái Ta thứ nhất là một tà kiến phải giải trừ vì nó không bao giờ hiện hữu. Còn cái Ta thứ nhì vô hại khi đã thấu hiểu Vô Ngã. Các vị A-la-hán, Bồ-tát sau khi chứng ngộ vẫn tiếp tục dùng chữ Ta, Tôi nhưng trong tâm các ngài không còn bấu víu vào cái Ta nào cả… Tuy cái Ta giả lập này tự nó không phải là một tà kiến, nhưng nếu không hiểu vô ngã thì mỗi lần dùng chữ đó lại vô tình củng cố thêm sự chấp ngã sâu dày từ vô thỉ.
Trên đây, chúng tôi mới nói về nhân vô ngã nghĩa là tính cách vô ngã của con người mà thôi mà chưa đề cập tới pháp vô ngã nghĩa là tính cách vô ngã của các pháp.
Trong sách Tâm kinh bát-nhã ba-la-mật-đa do Hòa thượng Thích Trí Thủ dịch ra tiếng Việt và chú giải (chùa Phổ Hiền tại Etobicoke, Ontario, tái bản năm 1996), chúng ta đọc được đoạn này: “Trong thân ngũ uẩn ấy, các thần giáo và triết học Ấn Độ cho rằng có một thần ngã (ātman) ngự trị bên trong bất di bất dịch, không chịu sự chi phối của vô thường. Nhưng Phật giáo vốn xây dựng trên lý duyên khởi, triệt để đánh đổ cái thần ngã ấy. Giáo lý vô ngã (anātman) của Phật giáo là câu trả lời đanh thép cho thuyết thần ngã vừa nói. Về sau, khi các trường phái A-tì-đàm vốn thuộc Thượng tọa bộ xuất hiện, giáo lý vô ngã tuy càng ngày càng thêm bền gốc chắc rễ, nhưng lại bị hạn cuộc trong phạm vi của lý thuyết nhân vô ngã. Đến lúc Đại thừa xuất hiện với giáo nghĩa Bát-nhã, thì vô ngã mới trùm lên trên hết thảy, đó là pháp vô ngã”. (Ghi chú: HT Trí Thủ tu theo đại thừa!)
Để kết thúc bài nói chuyện này, chúng tôi xin tóm tắt như sau :
1/ Vô ngã không có nghĩa là không có cái ta, cái tôi. Vô ngã có nghĩa là không có tự thể riêng biệt cho mình, phải nhờ vào các duyên mà có, hết duyên hay thiếu duyên thì mất.
2/ Con người chúng ta thiếu vắng tự thể, là vô ngã nhưng trong đời sống xã hội hàng ngày, vẫn dùng chữ ta, chữ tôi vì một quy ước thuận tiện trong xã hội. Trong Phật học, có hai đế (sự thật) : tục đế và chân đế. Tục đế dùng cho người phàm. Chân đế dùng cho thánh nhân. Chúng ta chấp ngã, vì còn là phàm phu. Phải tu mà phá chấp ngã, tiến lên vô ngã. Các bậc thánh hết chấp ngã rồi, đạt đến chân đế, nhưng gặp người thường thì vẫn dùng chữ Ta, Tôi vì theo tục đế.
3/ Vì cho cái ta , cái tôi là có thật có nên người ta mới vơ vét cho mình, chỉ nghĩ đến mình … , tham lam, giận hờn từ đó mà ra. Chấp ngã chính là vô minh. Do chấp ngã nên nhiều phiền não, gây nghiệp nên cứ trôi lăn trong sinh tử luân hồi mãi.
4/ Tu thì phải tập dẹp bỏ cái ta, càng dẹp được nhiều bao nhiêu càng lên cao bấy nhiêu. Từ nhỏ, chúng ta đã học “Thương người như thể thương thân” nhưng thành thực mà tự xét, hỏi rằng trong bao nhiêu năm nay, chúng ta đã thực hành đúng như thế được chút nào chưa. Dẹp cái ta thì không còn soi mói lỗi lầm của người khác mà chỉ quay vào xét chính mình. Tôi có nghe một tu sĩ nói rằng : Làm chùa to, xây chùa đẹp mà chưa hết cái ta, vẫn nghĩ chùa của ta, đất của ta thì còn lâu lắm mới ngộ đạo. Làm việc thiện, giúp nạn nhân thiên tai bão lụt mà chấp ngã thì phước đức chẳng có bao nhiêu. Tụng kinh, niệm Phật mà cái ngã còn lớn thì bao giờ mới giải thoát?
5/ Việc chính là phải thực hành tu tập hàng ngày vì nếu chỉ tìm hiểu vô ngã, chỉ nói phá ngã mà chẳng làm gì cả thì vô ích. Đó gọi là “đói mà nhìn người khác ăn, mình no sao được”. Hòa thượng Thiện Siêu dạy: “Mặc dù biết Phật pháp là mênh mông, cũng không ngoài một vị giải thoát nên dù chỉ học một câu kinh, tu hành một pháp môn cho thấu đáo cũng có thể hưởng được hương vị giải thoát mà không cần uống hết cả biển giáo lý. Nhưng điều cốt yếu là phải thực hành, không phải nói xuông mà hiểu đạo được”.
6/ Hàng ngày, cần phải kiểm điểm chính mình, duyệt xét thân khẩu ý, thực hành từ bi hỷ xả dù là một chút thôi. Nếu chúng ta đang thực hành pháp môn niệm Phật thì cứ hết lòng thực hành. Thêm vào đó, phải cố gắng thanh tịnh hóa thân khẩu ý ; mà thanh tịnh hóa thân khẩu ý chính là phá chấp ngã vậy. □

** Tác phẩm BƯỚC VÀO CỬA PHẬT-Quyển 1,2 và 3 đã được đăng trong mục “Phật Học” trang Web này . .- NN**

………………………………………………………………………………….

Add a Comment

Your email address will not be published. Required fields are marked *

Web
Analytics