1.Bài tình ca nổi tiếng 'Khúc Thụy Du 'cho ngày Valentine(RFA)2.Little Sài Gòn:Cuối năm thăm mộ phần.. (NL/NV)3.Lan Cao…(DTL)

Bài tình ca nổi tiếng “Khúc Thụy Du” cho ngày Valentine
Nguồn:Vũ Hoàng, phóng viên RFA-2015-02-15

du tu le.jpeg1

Thi sĩ Du Tử Lê – Photo: Nguyễn Đình Toán.

Trong không khí ấm áp của Lễ Tình Nhân đang tràn ngập khắp nơi nơi, hôm nay, chương trình âm nhạc xin được cùng quý vị tìm hiểu về một trong những bản tình ca rất nổi tiếng của Việt Nam, đó là bản Khúc Thụy Du. Mặc dù, được nhạc sĩ Anh Bằng phổ nhạc với giai điệu nhẹ nhàng, êm ái đầy chất trữ tình, nhưng thực chất, bài thơ gốc Khúc Thụy Du của thi sĩ Du Tử Lê lại rất mạnh mẽ, gào thét với những câu chữ gai góc, thậm chí chết chóc… Thế nhưng, ẩn chứa sau đó, thi sĩ Du Tử Lê lại làm bật lên một triết lý sâu sắc về tình yêu rằng khi yêu nhau hãy nhìn vào định mệnh, cuộc đời và hoàn cảnh của nhau dù cho sự chia lìa có thể xảy đến bất cứ lúc nào…

Vũ Hoàng: Hôm nay là một dịp rất may mắn lại được trò chuyện với thi sĩ Du Tử Lê về một trong những bài thơ rất nổi tiếng của ông và được nhạc sĩ Anh Bằng phổ là bài Khúc Thụy Du, đây được xem là bài hát kinh điển về tình yêu của VN khi mà nhắc tới những bản tình ca. Thưa thi sĩ Du Tử Lê, một lần nữa ông có thể cho thính giả của đài ACTD biết nguồn cội của bài Khúc Thụy Du này được không ạ?

Thi sĩ Du Tử Lê: Việc đầu tiên là cám ơn Vũ Hoàng và xin kính chào quý thính giả. Xin trả lời vào câu hỏi của Vũ Hoàng, bài thơ đó tôi viết ngay sau biến cố Tết Mậu Thân 1968. Bài thơ đó, tôi muốn ghi lại một bối cảnh và đặt vấn đề là trong một cuộc chiến tranh như vậy thì những người yêu nhau như vậy thì định mệnh và số phận họ như thế nào, thì đó là nguồn gốc của bài thơ.

Vũ Hoàng: Có một điểm rất đặc biệt trong bài thơ của thi sĩ Du Tử Lê là những lời thơ rất gào đau trong thời loạn nhưng khi được nhạc sĩ Anh Bằng phổ, thì bài này trở nên rất nhẹ nhàng. Vậy, nguyên cớ nào mà nhạc sĩ Anh Bằng lại tìm đến ông để phổ bài này ạ?

Bài thơ đó tôi viết ngay sau biến cố Tết Mậu Thân 1968. Bài thơ đó, tôi muốn ghi lại một bối cảnh và đặt vấn đề là trong một cuộc chiến tranh như vậy thì những người yêu nhau như vậy thì định mệnh và số phận họ như thế nào, thì đó là nguồn gốc của bài thơ

Thi sĩ Du Tử Lê

Thi sĩ Du Tử Lê: Thưa anh Vũ Hoàng, tôi cũng không rõ, những đại khái thế này. Trước đó, tôi và ông Anh Bằng hoàn toàn không biết nhau. Năm 1985, tôi cho tái bản ở bên này (Mỹ) cuốn thơ Du Tử Lê là cuốn đã in ở VN, trong đó có bài Khúc Thụy Du. Hồi đó, tôi có quán cà phê, tôi với anh Việt Dzũng và anh Trần Đức đang làm việc thì có người đến tìm tôi thì tôi nói vâng tôi đây. Người đó tự xưng “Tôi là nhạc sĩ Anh Bằng, tôi có phổ nhạc bài Khúc Thụy Du”, đại khái ông nói rằng nếu bên tôi có ca sĩ nào thì ông sẽ tập cho người ca sĩ đó hát. Vậy là chúng tôi quen nhau từ dạo đó. Tức là, ông ấy tự động tìm đến, ông đi mua cuốn sách và chọn bài thơ đó.

Vũ Hoàng: Lúc đó, thi sĩ Du Tử Lê có nhớ là nhạc sĩ Anh Bằng nói lý do vì sao ông chọn bài thơ này không ạ?

Thi sĩ Du Tử Lê: Tôi không hỏi, thưa anh. Tôi rất ngạc nhiên vì đó là bài thơ không đơn giản. Tôi ngạc nhiên lắm, vì nhạc sĩ Anh Bằng thường tìm đến những bài có tính truyện kể, có đầu có đuôi, chứ ông không tìm vào những bài thơ như thơ của tôi, vì bài thơ đó dài lắm, trên 100 câu, bị kiểm duyệt nữa nên chỉ còn vài chục câu thôi. Nhưng nhân đây, tôi cũng xin nói luôn, chắc Vũ Hoàng còn nhớ chúng ta có một nhà văn Pháp Antoine de Saint-Exupery, ông để lại một câu hay lắm là: Yêu nhau nhìn về cùng một hướng, ý của ông là khi người ta yêu nhau thì người ta hướng về một mục đích chung, một tương lai chung. Nhưng tôi thì nghĩ hơi khác, đồng ý yêu nhau thì nhìn về một hướng, nhưng đối với lại những cuộc tình trong cuộc sống tao loạn, chiến tranh như VN trong quá khứ, thì đó là điều gì đó rất bấp bênh và chia ly gần như thường trực, có những cuộc tình đổ vỡ, và như vậy thì làm sao nhìn về một hướng được. Thành ra, khi viết bài thơ đó, tôi muốn nói: Yêu nhau không phải là nhìn về một hướng mà yêu nhau là nên nhìn vào định mệnh, cuộc đời, hoàn cảnh của nhau, kể cả sự chia lìa trước sau cũng sẽ đến, đó là ý niệm sâu xa của bài Khúc Thụy Du.

Vũ Hoàng: Vâng, thưa thi sĩ Du Tử Lê đó cũng chính là câu hỏi Vũ Hoàng đang tính hỏi thi sĩ là thông điệp nào ông muốn gửi tới trong bài này thì rất may mắn thi sĩ đã giúp Vũ Hoàng. Nhưng Vũ Hoàng tin chắc là câu hỏi cuối cùng này là câu hỏi rất nhiều người muốn hỏi: người con gái tên Thụy ở đây là ai? Nếu như có cơ hội chia sẻ thì mời thi sĩ ạ?

Khi viết bài thơ đó, tôi muốn nói: Yêu nhau không phải là nhìn về một hướng mà yêu nhau là nên nhìn vào định mệnh, cuộc đời, hoàn cảnh của nhau, kể cả sự chia lìa trước sau cũng sẽ đến, đó là ý niệm sâu xa của bài Khúc Thụy Du

Thi sĩ Du Tử Lê

Thi sĩ Du Tử Lê: Dạ vâng, thưa thứ nhất, hồi đó tôi mới yêu người đó, người đó tên là Thụy Châu, Thụy là chữ lót, sau đó, người đó người đó trở thành bạn đời của tôi. Nhưng vì lỗi của tôi mà chúng tôi đã chia tay nhau cũng đã khá lâu.

Vũ Hoàng: Vũ Hoàng cũng xin đoán chữ “Du” đây là một phần trong tên của thi sĩ Du Tử Lê để khép thành “Khúc Thụy Du”

Thi Sĩ Du Tử Lê: Dạ, đúng vậy thưa anh Vũ Hoàng.

Vũ Hoàng: Thưa thi sĩ Du Tử Lê, chương trình hôm nay là dành cho những đôi tình nhân, ngày Valentine, một lời nói nào thi sĩ muốn gửi gắm tới những đôi tình nhân trong thời bình ngày nay.

Thi sĩ Du Tử Lê: Nhân đây tôi xin phép được chuyển lòng cầu mong của tôi đến tất cả những người yêu nhau và của cả những cuộc hôn nhân. Tôi mong rằng những người đang lắng nghe chúng ta không rơi vào tình trạng của tôi như trong quá khứ.

Vũ Hoàng: Và Vũ Hoàng cũng thay mặt thính giả đài ACTD cám ơn thi sĩ Du Tử Lê rất nhiều, và mong là mỗi ngày đều là ngày Valentine đối với ông và gia đình.

Thi sĩ Du Tử Lê: Cám ơn anh Vũ Hoàng, câu hay quá. Tôi cũng xin mượn câu của anh mới nói để gửi tới quý thính giả, như một lời cám ơn chân thành của chúng tôi.

Vũ Hoàng: Dạ, cám ơn thi sĩ Du Tử Lê ạ.

Thi sĩ Du Tử Lê: Dạ, cám ơn anh Vũ Hoàng.

…………………………………………………………………….

Little Saigon: Cuối năm, thăm mộ phần của những người nổi tiếng
Nguồn: nguoiviet.com- Thursday, January 22, 2015

* Chốn ‘Nhân Gian Không Thể Hiểu’

Ngọc Lan/Người Việt

WESTMINSTER, California – Người sống quanh Bolsa ai lại không biết Peek Family, nơi dừng chân cuối cùng của nhiều người, và có thể của chính chúng ta.

Ngày mới đến định cư nơi Little Saigon này, mỗi tuần không biết bao bận tôi ngược xuôi ngang đây, đưa con đến trường và tôi đi học.

Peek Family vì thế trở nên… quen, như thể tôi quen với con đường Bolsa, quen với con đường Bushard, quen với Westminster với Beach, Brookhurst và Moran.

Thế nên, quả thực, chưa bao giờ tôi nhìn ra màu buồn thiu nơi nghĩa trang này. Cố tìm, từ ngoài nhìn vào, cũng chỉ thấy cỏ xanh, mây trắng, và những đóa hoa nhiều màu, những chiếc bong bóng sặc sỡ chen bên bia mộ. Hơn nữa, không lúc nào lại không thấy bóng người ra vào, viếng thăm. Tự hỏi, không biết nghĩa trang có… buồn không?

Hơn chín năm gắn bó đi về, qua lại quanh Trạm Dừng Chân Cuối của nhiều người, cũng không ít lần tôi lái xe vào bên trong cánh cổng ở đường Bolsa lẫn con đường Beach, dự tang lễ những người quen biết. Nhưng hôm nay, ngày Chủ Nhật cuối tuần, sau một ngày mưa nhiều, gió lạnh, tôi, mới lần đầu tiên, ôm trên tay một bó hồng cùng thiên nhang, lững thững bước vào nghĩa trang, trong tâm tình người đi viếng mộ.

Nói là đi viếng, nhưng thực tình tôi chưa có người thân nào yên nghỉ trên mảnh đất này. Tôi cũng chưa được ai dạy qua về cách đi viếng mộ. Tôi tự đi theo cách của mình – một người cầm bút, đi tìm thăm những văn nhân thi sĩ, những người từng dùng chữ mưu sinh, cả viết lách lẫn làm thơ, soạn nhạc.

Chủ Nhật gần cuối năm trong nghĩa trang ngập nắng. Nắng lên sau ngày mưa. Nắng rải đầy lối đi, phủ đầy bia mộ. Nắng rực rỡ.

Peek Family không có cái hun hút đến thảng thốt, rợn người như khi đặt chân đến những nghĩa trang người tị nạn ở Kuku, ở Air Raya, Indonesia. Peek Family không có cái bi ai, nức nở khi tiếng kinh của người Hồi Giáo trong chiều vắng vang lên, nguyện hồn người nơi viễn xứ.

Peek Family có hơi ấm, có bước chân, có tiếng thì thầm, có bàn tay ve vuốt, vỗ về, trò chuyện.

Ði trong Peek Family, giữa những thảm cỏ tươi xanh, giữa những đóa hoa nhiều màu ai đó cắm bên bia mộ, và giữa những người thuộc nhiều sắc dân khác nhau, đang ngồi bên người thân của họ, như chuyện trò, như kể nhau nghe những câu chuyện ngày nào hãy còn dang dở, tôi thấy một nỗi gì bình an đến lạ.Ngôi mộ người không quen tôi dừng lại đầu tiên là nơi an nghỉ của nhà văn Mai Thảo.

Mai Thảo được nhiều người biết đến lúc sinh thời và cả khi mất đi, mười mấy năm rồi, tên ông thoảng tôi vẫn còn nghe nhắc, trong bạn bè ông. Tuy nhiên, nhiều người biết, không có nghĩa là tôi cũng biết, hay làm ra vẻ biết. Tôi không biết gì về ông hết, tôi cũng chưa từng đọc qua một tác phẩm văn chương nào của ông. Nhưng nghe nói ngày ông mất, người ta phải xếp hàng dài lắm và lâu lắm mới đến viếng ông được, vậy là đủ để tôi ngưỡng mộ ông rồi.

cuoi nam -mo phan 1

Nhà văn Mai Thảo, “Thế giới có triệu điều không thể hiểu/Càng hiểu không ra lúc cuối đời…” (Hình: Ngọc Lan/Người Việt)

Nơi ông nằm, hướng thẳng ra đường Bolsa. Tôi đứng nhìn hàng chữ được viết nơi ông đang ngủ:

“Anh, chị, em và các cháu, Các văn nghệ sĩ và bạn thân
Vô cùng thương tiếc nhà văn Mai Thảo – Nguyễn Ðăng Quý, pháp danh Minh Tâm (8.6.1927 – 10.1.1998)”

Ông không có gia đình riêng, của chính ông?

Tôi ngồi xuống. Vài chiếc lá khô. Ít cọng cỏ vàng, vương vãi nơi mặt ông trên tấm bia. Tôi đưa tay phủi. Nhẹ nhẹ. Tôi cảm giác như tôi đang phủi bụi rơi trên mặt người; phủi nhẹ, kẻo đau!

Mặt mộ không sáng bóng, như dăm ba ngôi mộ gần đó. Tôi cũng không biết là cần phải mang theo chiếc khăn hay cuộn khăn giấy nhúng nước thì mới làm cho mặt nhà mồ sáng mới.

Thôi, đành cứ dùng bàn tay mà phủi đi ít nhiều dấu vết của sự quên lãng.

Mai Thảo là nhà văn, sau này ông làm thơ. Thế nên “ngôi nhà cuối cùng” của ông được chạm bài thơ:

“Thế giới có triệu điều không thể hiểu
Càng hiểu không ra lúc cuối đời
Chẳng sao, khi đã nằm trong đất
Ðọc ở sao trời sẽ hiểu thôi”

Tôi đặt lên mộ ông vài cành hồng. Tôi thắp ba nén nhang. (Sau, tôi nghe người bạn nói, Mai Thảo không thích thắp nhang, ông chỉ muốn uống rượu và đốt thuốc mà thôi). Lần sau có trở lại, tôi sẽ mang kính ông ly rượu. Còn hôm nay, ngửi mùi nhang trầm, biết đâu ông cũng thấy dễ chịu, nhất là nhang được đốt từ một đứa chưa từng đọc văn chương ông, nhưng mà nó biết tên ông. Vậy là vui, và ấm lòng. “Ðọc ở sao trời sẽ hiểu thôi” là hiểu những điều giản dị như thế, ông nhỉ!

Tôi đặt thêm vài cành hoa, đốt thêm vài nén nhang cho những láng giềng của nhà văn Mai Thảo.

Tôi tiếp tục lang thang, tìm. “Gần gần nơi Mai Thảo là nơi ông Ðỗ Ngọc Yến nằm.” Một đồng nghiệp lớn tuổi nói với tôi qua phone.

Gần đấy có một gia đình nhiều thế hệ, hơn cả 15 người, đứng ngồi quây quần bên nấm mộ, như thể họ đang pinic. Không ồn ào, nhưng không vương nét sầu đau. Người đang ngủ dưới kia, nhìn thấy thân nhân mình như thế, âu cũng vui lây, trong sự ấm áp, sum vầy. Nơi góc kia, có ba người phụ nữ, ra vẻ như một bà mẹ và hai người con gái, cũng không là trẻ, đang lúi cúi chưng hoa, nhặt cỏ, lau chùi nấm mộ người thân. Một ông bác lớn tuổi người Việt cũng đang chăm sóc một nấm mồ hướng ra con đường Bolsa đang ngược xuôi xe qua lại.

Ði “gần gần” hoài chưa nhìn thấy mộ người sáng lập nhật báo Người Việt, tôi đi trở lại nơi mình đậu xe để cất bớt những thứ lỉnh kỉnh.

Thật lạ lùng, xe vừa đóng cửa, dợm bước đi lại chỗ cũ để tìm lần nữa thì lại nhìn thấy tấm bia ghi “Rêmi Ðỗ Ngọc Yến” ngay trước mặt mình. Tôi mỉm cười.

Vẫn bó hoa và nhang trên tay, tôi đứng yên nhìn nơi yên nghỉ của “bác Yến” – như cách gọi của các đồng nghiệp trẻ của tôi.

Mộ bác Yến là ngôi mộ ít chữ nhất trong số những ngôi mộ tôi ghé thăm.

“Rêmi Ðỗ Ngọc Yến
May 25, 1941 Sài Gòn Việt Nam – August 17, 2006 California USA”

Bên dưới là hình một quyển sách mở ra, gối đầu lên một quyển đóng.

cuoi nam- mo phan 2

Nhà báo Ðỗ Ngọc Yến, chủ nhiệm sáng lập nhật báo Người Việt. (Hình: Ngọc Lan/Người Việt)

Chỉ vậy. Rất giản dị. Ðôi dòng chữ đó nằm lệch hết về bên trái, phần bên phải của tấm bia có lẽ được dành cho một người – người mà ông yêu nhất.

Nhiều hoa tươi được trồng, được cắm quanh mộ Rêmi Ðỗ Ngọc Yến. Ðưa tay phủi đi những chiếc lá rụng còn bám trên thành mộ sau ngày mưa gió, tôi lại đặt dăm cành hoa hồng cạnh chân dung ông. Tôi biết ông là người Công Giáo, nhưng tôi vẫn muốn thắp cho ông nén nhang để tỏ lòng với người đã khuất theo phong tục tôi được dạy.

Chụp hình nơi ông đang ngủ, tôi thấy bóng tôi in trên vách mộ. Nghiêng sang bên chụp lại. Một làn gió mạnh tự dưng tạt tới, khói nhang tỏa nhòa trước di ảnh người khai sinh ra tờ báo Người Việt.

Tôi đứng yên nhìn ông đang cười, qua tấm chân dung. Tôi nghe nhiều chuyện kể về ông lắm, chuyện kể với sự thán phục lẫn chuyện kể để bật cười thích thú với câu kết luận, “Ðó là Ðỗ Ngọc Yến.”

Tôi đọc tin ông mất khi tôi sang Mỹ được một năm, đang làm việc tại một trung tâm chăm sóc người già. Tôi nhớ tôi có đọc được những tranh cãi quanh chuyện có nên lấy tên ông đặt tên cho một con đường.

Một năm sau ngày ông mất, tôi trở thành người của Người Việt. Tôi không có cơ may để có bất cứ kỷ niệm nào với ông như nhiều đồng nghiệp tôi có. Nhưng tôi biết tôi cần cám ơn ông vì nhờ ông mà hôm nay tôi có chỗ để viết những điều mình muốn viết, gửi đến mọi người.

Ghé qua thăm láng giềng bác Yến, thật bất ngờ khi thấy “cách nhà bác Yến một căn” là nơi ở thiên thu của vợ chồng nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ và ca sĩ Nguyễn Thúy Nga.

Cuộc đời dù không mong nhưng quả thật có nhiều điều ngẫu nhiên đến lạ lùng.

Bài hát không là “nhạc đỏ” mà tôi được nghe đầu tiên là “Ðường xưa lối cũ.” Tôi nhớ khi đó tôi còn nhỏ lắm, ngồi trên gác học bài khuya, nghe dưới nhà ba tôi mở bản nhạc này, thật nhỏ (vì không muốn bị bắt). Một âm điệu, một cảm xúc gì thật lạ, thật khác mỗi lần tôi lắng tai nghe

“Ðường xưa lối cũ, có em tôi tóc xanh bay mơ màng.
Ðường chiều dịu nắng, bóng em đi áo nâu in đường trăng.
Ðường xưa lối cũ, có mẹ tôi trông con trong hôn hoàng.
Lòng già thương nhớ, nhớ đến tôi, lom khom đi tìm con…”

cuoi nam - mo phan 3

Nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ, “Ðường xưa lối cũ, có em tôi tóc xanh bay mơ màng/Ðường chiều dịu nắng, bóng em đi áo nâu in đường trăng.” (Hình: Ngọc Lan/Người Việt)

Cũng trong những lúc đêm xuống thật sâu như thế, tôi nghe văng vẳng từ chiếc radio của ba tôi những câu hát đưa lòng mình đến chốn nào đó thanh bình, nhẹ nhàng và êm ái mênh mông.

“Em gái vườn quê, cuộc đời trong trắng, dầm mưa dãi nắng mà em biết yêu trăng đẹp ngày rằm.
Anh biết mặt em, một chiều bên thềm, giọng hò êm đềm,và đôi mắt em lóng lánh sau rèm…”

Lớn lên, khi Sài Gòn dễ thở hơn, tôi mới biết giọng hát từng quyến rũ tôi nhiều đêm đó là của Thanh Tuyền và “Ðường Xưa Lối Cũ,” “Duyên Quê” là của Hoàng Thi Thơ, người viết luôn “Tà Áo Cưới,” “Trăng Rụng Xuống Cầu,” “Gạo Trắng Trăng Thanh,” “Ðám Cưới Trên Ðường Quê,” “Tình Ta Với Mình”…

Biết là biết vậy, đâu ngờ, hôm nay, trong lần đầu tiên làm người đi viếng mộ, tôi lại đứng trước mặt ông, nhìn ông mỉm cười. Cũng hôm nay tôi mới biết mặt ông, người nhạc sĩ cùng với Phạm Duy, từng bị lệnh cấm trở về quê hương rất nhiều năm sau 1975, là một người có nụ cười rất tươi và ánh mắt rất vui.

Tôi tiếp tục đi bộ hướng vào bên trong như kiểu từ Bolsa rẽ về đường Hoover rồi sẽ đến Westminster rồi lại gặp đường Beach, để đi tìm thi sĩ Nguyễn Tất Nhiên và Nguyên Sa, “hai ông nhà thơ đó nằm gần nhau” – người đồng nghiệp lớn tuổi hướng dẫn tôi như thế.

Lững thững đi, không có gì vội, vừa đi vừa nhìn vừa ngắm sự đa dạng trong Peek Family. Sự chăm chút sạch sẽ hay sự bạc màu cũ kỹ, sự sang trọng hay sự đơn sơ của từng ngôi mộ tôi qua cũng không khác gì lắm với nét muôn màu của những ngôi nhà trong thế giới người sống. Có khác chăng chỉ là sự tĩnh lặng hay ồn ào tiếng nói, tiếng cười, cả tiếng cãi vã.

Tôi dừng lại bên một “ngôi nhà” thật đẹp, thật sang, thật khác những nơi tôi vừa đi qua. Nơi đây như một mảnh vườn được chăm chút chu đáo, lá xanh rì tươi tốt chen cùng cúc vàng, cúc tím, lan trắng, cau kiểng, và nhiều cây tôi không biết tên.

Tôi nhìn thấy “Nhạc sĩ Nhật Ngân – Trần Nhật Ngân” trên nấm mộ dài bằng đá hoa cương trắng trước khi đọc dòng chữ “Nơi an nghỉ ngàn thu nhạc sĩ Nhật Ngân” trên tấm bia bằng đá hoa cương đen.

Bần thần một thoáng. Tôi nhớ hình ảnh ông ôm chiếc guitar say sưa hát, có cả nhạc sĩ Nguyễn Ðức Quang, có cả ca sĩ (Lê) Uyên Phương, có cả nhạc sĩ Trần Quang Lộc từ Việt Nam sang, trong một đêm nhạc tổ chức vào một tối cũng những ngày cuối năm, gần Tết. Ðó là đêm nhạc hay nhất tôi từng được xem, đó là lần đầu tiên cũng là lần cuối cùng tôi nhìn thấy ông, dù rằng không biết bao lần, những “Xuân Này Con Không Về,” “Qua Cơn Mê,” “Ðêm Nay Ai Ðưa Em Về,” “Tôi Ðưa Em Sang Sông,”… khiến tôi rơi nước mắt.

cuoi nam- mo phan 4

Nhạc sĩ Nhật Ngân, “Bao lứa trai cùng chào xuân chiến trường, không lẽ riêng mình êm ấm. Mẹ ơi con xuân này vắng nhà” (Hình: Ngọc Lan/Người Việt)

“Con biết bây giờ mẹ chờ em trông
nhưng nếu con về bạn bè thương mong
bao lứa trai cùng chào xuân chiến trường
không lẽ riêng mình êm ấm
Mẹ ơi con xuân này vắng nhà”

Dẫu mộ ông nhiều hoa, tôi vẫn muốn đặt thêm lên những cành hồng tôi có, để từ hôm nay, mỗi lần nghêu ngao “Nếu tôi đừng đưa em, thì chắc đôi mình không quen/Ðừng bước chung một lối mòn, có đâu chiều nay tôi buồn,” tôi sẽ lại nhớ đến ông với nét cười rất duyên và đêm nhạc trong buổi tối lạnh mà dư âm của nó đến giờ vẫn chưa thể quên.

Sau khi tình cờ ghé đến căn nhà đẹp của Nhật Ngân, tôi ngồi bệt xuống trên bãi cỏ, cạnh tấm mộ chìm dưới đất, cũ màu. Tôi thấy dòng chữ “Thi nhân Nguyễn Tất Nhiên.”

Tác giả của lời nhạc “Thà Như Giọt Mưa” với những câu “người từ trăm năm, về phai tóc nhuộm / ta chạy mù đời, ta chạy tàn hơi /quỵ té trên đường rồi /sợi tóc vương chân người” hay “người từ trăm năm, về như dao nhọn /dao vết ngọt đâm, ta chết trầm ngâm /dòng máu chưa kịp tràn,” tự dứt bỏ cuộc đời khi mới bước qua tuổi 40 đôi ba tháng. Trẻ hơn tôi bây giờ.

cuoi nam- mo phan 5

Thi sĩ Nguyễn Tất Nhiên, “Ta phải khổ cho đời ta chết trẻ. Phải ê chề cho tóc bạc với thời gian. Phải đau theo từng hớp rượu tàn. Phải khép mắt sớm hơn giờ thiên định!” (Hình: Ngọc Lan/Người Việt)

Dòng chữ trên phần mộ:

“Vô cùng thương tiếc Thi Nhân Nguyễn Tất Nhiên
Anh chị em báo chí, văn nghệ sĩ, thân hữu, bố mẹ, và các em lập mộ 1992”

Lại đưa tôi đến những suy nghĩ vẩn vơ.

Phải mất đến 4 lần chỉ dẫn, nhà báo Hoàng Mai Ðạt mới giúp tôi tìm được “ngay gần nơi đài phun nước đó, có cây như cây bồ đề lớn lắm, Nguyễn Tất Nhiên nằm đó.”

Nguyễn Tất Nhiên chìm vào giấc ngủ say trong một ngôi chùa, và giờ đây, được nằm mãi dưới bóng cây bồ đề, mặt hướng ra con đường mang tên Biển…

“Ta phải khổ cho đời ta chết trẻ
Phải ê chề cho tóc bạc với thời gian
Phải đau theo từng hớp rượu tàn
Phải khép mắt sớm hơn giờ thiên định!”

Những dòng thơ Nguyễn Tất Nhiên viết 20 năm trước ngày ông “khép mắt sớm hơn giờ thiên định” được ai đó chọn khắc trên mộ ông như lời giải mã cho cuộc đời vốn không êm đềm của người thi sĩ.

“Ðưa em về dưới mưa, chiếc xe lăn dốc già
Ðưa em về dưới mưa, áo em bùn lưa thưa
Ðưa em về dưới mưa, hỡi cô em bé nhỏ
ôi duyên tình đã qua, có bao giờ không xưa?”

Sẽ không xưa bao giờ, với những duyên tình đã qua, tôi muốn nói với Nguyễn Tất Nhiên như thế sau khi đặt xuống những cành hồng cuối cùng còn có trên tay.

“Từ chỗ Nguyễn Tất Nhiên, quay lưng về đường Beach, bước đi chừng mấy chục bước sẽ thấy Ðào Mộng Nam, kế bên là Nguyên Sa.” Hoàng Mai Ðạt tiếp tục chỉ cho tôi đường đi.

cuoi nam- mo phan 6

Nhà thơ Nguyên Sa, “Áo nàng vàng anh về yêu hoa cúc. Áo nàng xanh em mến lá sân trường.” (Hình: Ngọc Lan/Người Việt)

Cạnh mộ Nguyên Sa có chậu cúc vàng. “Bao giờ cũng có chậu cúc vàng bên mộ Nguyên Sa,” một người bạn nói cho tôi biết. “Ai đặt vậy?” – “Không biết. Chỉ biết từ câu thơ ngày xưa ‘Áo nàng vàng anh về yêu hoa cúc…’ mà giờ đây người ta luôn nhận ra có hoa cúc vàng bên mộ ông.”

“Nằm chơi ở góc rừng này
Chưa thiên thu cũng đã đầy cỏ hoang
Xin em một sợi tóc vàng
Làm hoa khởi sự cho ngàn kiếp sau
Biết đâu thảo mộc bớt đau
Biết đâu có bản kinh cầu dâng lên?”

Bài thơ khắc bên dưới dòng chữ “Thi sĩ Nguyên Sa.”

Cỏ hoang không có trong Peek Family. Peek Family có nhịp sống, có hơi thở, có tiếng nói, giọng cười, có bước chân đi của hiện tại. Rõ ràng, “tóc vàng” từ hoa cúc vẫn là lời kinh dâng đến mỗi ngày cho người vẫn ngủ say.

Gần “nơi an nghỉ vĩnh cửu” của tác giả “Tháng Sáu Trời Mưa,” có một người phụ nữ đang xem bói cho một người đàn ông, cạnh một ngôi mộ họ vừa chăm sóc, rất thành tâm.

Ðời dương và đời âm dường như rất gần nhau nơi đây. Qua khỏi nơi yên bình này, tôi lại hòa vào dòng đời đang hối hả. Nắng rạng rỡ trên đầu, sau một ngày mưa lạnh.

–-
Liên lạc tác giả: NgocLan@nguoi-viet.com

=====================================

‘Hay tự lòng ta lấp lối về’

Nguồn:nguoiviet.com- Ðinh Quang Anh Thái (ghi)

Sáng Mùng Sáu Tết, đám tang nhạc sĩ Nhật Ngân, nhà văn Nguyễn Ðình Toàn gọi: “Cậu đến đón anh nhé, anh muốn tiễn Nhật Ngân.”

Từng đến nhà anh Toàn nhiều lần, vậy mà hôm đó tôi đi lạc, cứ chạy vòng vòng tìm nhà. Rốt cuộc anh phải đi bộ ra đầu đường chờ.

Trời Quận Cam nhiệt độ lên tới 82 độ F, vậy mà anh vẫn mặc chiếc áo dạ. Từ xa, dáng anh gầy liêu xiêu đổ. Lên xe, anh bảo, hơn 20 năm qua Mỹ, nơi anh tới nhiều nhất là nhà quàn để tiễn bạn “đi xa.”

Hỏi anh Toàn về Nhật Ngân, anh bảo: “Ngân là người hiền và tử tế.”

Tại Peek Family, theo đoàn người đi sau quan tài, đi ngang nơi an nghỉ của nhà báo Ðỗ Ngọc Yến, anh Toàn đọc cho nghe câu thơ của anh: “Ðã thấy ta gần với cái xa.” Ðoạn, ngồi xuống bãi cỏ trước mộ phần anh Yến, đọc cho nghe nguyên cả bài thơ:

Ðã Nghe

Ðã nghe đời xa ta
Người xa ta
Tình xa ta
Như cây khô trút dần hết lá

Ðường đang đi bỗng như
Chập chờn có sóng đưa
Xô dồn
Trong một lối về

Ðã thấy quanh ta đời quạnh quẽ
Những tiếng xôn xao im dần đi
Ðời một phía ta trôi về một phía

Có phải ta mù dở hay sương che
Những bóng hình xưa

Nhập vào trong ước mơ
Giờ cũng bay ra làm gió
Ta có quên đâu
Nhưng nhìn xem cũng lạ
Hoa ngỡ như không còn là hoa nữa
Những mặt người ta giấu trong ta
Dấu mốc đời qua
cười băng giá

Ta cũng không mong quay lại nữa
Trăng thoắt rơi ngang trên đường đi
Ta bỗng nghe ra bằng thịt da
Ðã thấy ta gần với cái xa

Ô hay đất đá nào rơi lở
Hay tự lòng ta lấp lối về.

Ðưa tác giả “Áo Mơ Phai” về nhà, lại nhìn thấy dáng anh xiêu đổ, trong đầu bỗng vang lên câu cuối của bài thơ, “Hay tự lòng ta lấp lối về.”

………………………………………………………………………………….

Lan Cao, cây bút Việt vào được dòng chính văn chương Hoa Kỳ
Nguồn:nguoiviet.com-Friday, February 13, 2015

Du Tử Lê

Nếu không kể những người trẻ, cầm bút sau biến cố tháng 4, 1975, viết văn, làm thơ không phải bằng tiếng mẹ đẻ mà, bằng các ngoại ngữ ngoại ngữ phổ cập như tiếng Mỹ, tiếng Pháp hay, tiếng Đức…, mượn tên nhà xuất bản ngoại quốc để xuất bản giúp tác phẩm của mình; thì Lan Cao là một trong số những nhà văn gốc Việt, nghiêm trang, chính danh, bước vào được dòng chính của văn chương Hoa Kỳ.

Lan Cao
Nhà văn Lan Cao. (Hình: diacritics.org)

Ngay tự tác phẩm đầu tay “Monkey Bridge – Cầu khỉ,” một nhà xuất bản lớn của Hoa Kỳ chọn xuất bản năm 1997, tác phẩm của Lan Cao đã được giới phê bình văn chương Hoa Kỳ đón nhận như một thành tựu tốt đẹp của một cây bút ngoại quốc, gốc Việt.

Nhưng phải đợi tới cuốn tiểu thuyết thứ hai, tựa đề “The Lotus and the Storm – Hoa Sen trong bão tố,” do nhà xuất bản Viking xuất bản giữa năm 2014, thì văn tài của cô mới thực sự được văn giới Hoa Kỳ công nhận, như một trong những cây bút viết về chiến tranh Việt Nam, trung thực, cảm động, đầy tính nhân bản, vượt trên hận thù hoặc, thiên kiến chính trị, phe phái.

Mặc dù “The Lotus and the Storm – Hoa Sen trong bão tố” được xếp vào loại tiểu thuyết, nhưng người đọc sẽ không khó lắm khi nhận ra, nó cũng là một dạng bán hồi ký (semi-autobiograpy) — Vì nội dung “The Lotus and the Storm – Hoa Sen trong bão tố” cho thấy đó là truyện kể về một gia đình mà mỗi cá nhân thuộc về gia đình ấy, như những chiếc lá từ một gốc cây bị cuộc chiến khốc liệt ở phần đất miền Nam Việt Nam, bứt lìa khỏi cành, khi Sài Gòn, thủ đô miền Nam Việt Nam, đổi chủ vào những ngày cuối cùng của tháng 4, 1975.

Họ như những chiếc lá bất lực trong bàn tay vò xé của định mệnh và, kết quả cuối cùng là mỗi thành viên đã mặc nhiên được định mệnh ưu ái tặng cho một vết thương khôn lành…

Hai nhân vật chính của “The Lotus and the Storm – Hoa Sen trong bão tố,” một là cựu sĩ quan từng được trao tặng nhiều huân chương do những thành tích ông đạt được sau nhiều năm tháng vào sinh, ra tử…Nhưng hiện tại ông đang nằm chờ chết nơi căn nhà riêng của ông tại một thành phố thuộc ngoại ô thủ đô Hoa Kỳ. Và nhân vật chính thứ hai, tên Mai, con gái của người cựu sĩ quan từng hiến trọn của đời mình cho cuộc chiến chống trả nỗ lực thôn tính miền Nam của chế độ Cộng Sản miền Bắc. Cô được mô tả lớn lên ở vùng Chợ Lớn, ngoại ô thành phố Sài Gòn.

Tài kể chuyện của Lan Cao qua văn chương, dù đã được tác giả tiểu thuyết hóa phần nào những biến động, những bi kịch đời thường xoay quanh hai nhân vật chính kia, nhưng người đọc vẫn cảm nhận được tính riêng tư, ngậm ngùi bi phẫn của những phận đời chìm, nổi trong chiến tranh đó.

Tuy nhiên, những phận đời người lính, chờ chết và, người con đã bước vào tuổi trưởng thành ở xứ người…trong “The Lotus and the Storm – Hoa Sen trong bão tố,” không chỉ gói gọn trong bi kịch của một gia đình, hai thế hệ lưu vong mà, nó trở thành một bất hạnh hay một thương tích tâm thần chung cho những người cùng cảnh ngộ! Cho bất cứ một gia đình, có bất cứ một nguồn gốc nào, khi họ phải gánh chịu hậu quả chiến tranh — Con quái vật nghìn tay của thời đại.

Không biết, có phải vì tính nhân quần, sự tật nguyền tâm lý của các nhân vật trong “The Lotus and the Storm – Hoa Sen trong bão tố” của Lan Cao đã vượt khỏi giới hạn của một biên cương, khu vực địa-chính- trị của một quốc gia hay không mà, tiểu thuyết của cô, đã được văn giới Hoa Kỳ, trao tặng những vòng nguyệt quế trân, quý — Một điều dường như chưa xẩy đến cho bất cứ một tác giả Việt trẻ nào, cầm bút sau tháng 4, 1975 như Lan Cao.

Theo ghi nhận trong một bài tường thuật của tổ chức VAALA hiện có trên Wikipedia-mở thì:

“…The Lotus and the Storm nhận được nhiều lời khen ngợi từ giới phê bình cũng như các nhà văn. Ruth Ozeki, tác gỉa của cuốn A Tale for the Time Being, cuốn sách đoạt giải Book Prize của báo Los Angeles Times, viết về cuốn tiểu thuyết mới của Lan Cao như sau: ‘Một cuốn tiểu thuyết cảm động sâu sắc về những hậu quả đổ nát xảy ra với một cô gái trẻ, với gia đình và đất nước của cô. Với những chi tiết gợi cảm và ấn tượng, Lan Cao mang lại hình ảnh Sài Gòn xưa một cách sinh động qua con mắt của người kể chuyện, Mai, đi theo cô và cha cô đi nửa vòng trái đất, tới một vùng ngoại ô ở Virginia, nơi bốn mươi năm sau, nỗi đau của Mai lại bùng lên. Trong thế giới bị phân cách này, nơi những vết tích chiến tranh, những mối tình và những mất mát cũ tiếp tục kéo dài, The Lotus and the Storm là một minh chứng hùng hồn cho chân lý rằng quá khứ và hiện tại là một, không tách rời, không tránh khỏi được, kéo dài mãi mãi.’

“Khaled Hosseini, tác giả của The Kite Runner, cho biết, ‘The Lotus and the Storm là một phần trong câu chuyên dài của gia đình, một phần là câu chuyện của lứa tuổi mới lớn, một phần là chuyện tình, nhưng trên hết, nó là một bản cáo trạng cho sự tham dự của Hoa Kỳ tại Việt Nam và những mất mát không thể kể hết cho nhiều thế hệ trong quá khứ và tương lai. Một cuốn sách hấp dẫn từ đầu cho đến cuối.’”

“Bridget Thoreson điểm cuốn The Lotus and the Storm trong tạp chí Booklist như sau: ‘Tất cả những tác phẩm viết về cuộc chiến Việt Nam, rất ít là từ cái nhìn của người miền Nam Việt Nam, mà cuộc đời của chính họ chịu nhiều tan vỡ trong cuộc chiến. [Lan] Cao tìm cách điều chỉnh sự mất cân bằng này qua câu chuyện phức tạp của người cha và người con gái vượt thoát đến Hoa Kỳ, mãi mãi bị chịu sự ảnh hưởng của cuộc chiến và những hậu quả của nó. Cuốn tiểu thuyết, vốn được dựa vào một phần đời thật của chính tác gỉa, bao gồm nhiều biến cố lớn trong lịch sử như Tết Mậu Thân và cuộc di tản khỏi Việt Nam sau khi Cộng Sản chiếm Sài Gòn. Nhưng cốt lõi của câu chuyện lại lấy gia đình làm trọng tâm, với cô con gái tên Mai và người cha tên Minh cố gắng bảo vệ lấy gia đình. […] Vang vọng và bi thương, The Lotus and the Storm là một thành quả tuyệt vời’.”

*Theo ghi nhận của trang mạng Wikipedia-mở thì, “Lan Cao sinh năm 1961 tại Việt Nam. Đến Mỹ năm 13 tuổi, Lan Cao nhận bằng B.A. ngành khoa học chính trị tại trường Mount Holyoke College năm 1983, và bằng Tiến Sĩ Luật (Juris Doctor) của trường đại học luật Yale.

Monkey Bridge của Lan Cao, xuất bản năm 1997, là cuốn tiểu thuyết kể về 1 người mẹ và cô con gái rời Việt Nam để đến Mỹ. Được coi là ‘cuốn tiểu thuyết đầu tiên của 1 người Mỹ gốc Việt viết về chiến tranh và hệ lụy của nó.”

*“Hiện tại, bà là giáo sư dạy luật cho một trường đại học Luật Khoa tại miền Nam California.”.

Điều đáng nói với tôi, không chỉ là cánh cửa văn chương dòng chính (Hoa Kỳ) đã rộng mở cho Lan Cao mà, tôi hy vọng, sau Lan Cao, những người cầm bút trẻ, trưởng thành ở xứ người sẽ nối gót Lan Cao, bước tới được quảng trường văn chương mang tính thế giới này.

Tháng 1, 2015

Du Tử Lê

………………………………………………………………..

Add a Comment

Your email address will not be published. Required fields are marked *

tumblr hit counter