1.Hồi ức 30/4 của người Việt tại Âu Châu-2.Thành phố của Thủ Đô Miền Nam VNCH(BNL)2.Chúng tôi vẫn sống(DLB)3/40 năm nhìn lại

Hồi ức 30/4 của người Việt tại Âu Châu
Nguồn:Tường An, thông tín viên RFA, Paris-2015-03-17

hoi uc au chau1

Paris. Đại lộ Gay Lussac, 3 giờ chiều ngày 27 tháng 4, 1975, sinh viên các đại học Paris, đại học Orsey đeo tang diễu hành…Việt Nam mất vào tay cộng sản 3 ngày sau đó – RFA Files

Trong chuyến trốn chạy chế độ Cộng sản sau ngày 30/4, hoặc di tản bằng máy bay, hoặc vượt thoát bằng thuyền hay được bảo lãnh bởi người thân, bằng cách này hay cách khác họ đã đến Đức, Pháp, Hà Lan.v.v…. Sau đây là hồi ức 40 năm của những người Việt tị nạn tại Âu châu

Ngày thống nhất đất nước cũng là ngày bắt đầu những chia lìa, những bắt bớ, sợ hãi, nghi ngờ và cả một chuỗi tang thương nối tiếp. Kính mời quý vị cùng chúng tôi sống lại một ngày của kinh hoàng, của tiếng cười chìm sâu trong tiếng khóc qua hồi tưởng của một số nhân chứng tại Âu châu.

Nỗi đau và ngày tháng kinh hoàng

Anh Lê Như Quốc Khánh, một kỹ sư tin học, hiện cư ngụ tại Pháp, có cha là một sĩ quan cao cấp trong quân đội VNCH, hồi tưởng lại nỗi sợ hãi và mất mát của chàng trai tuổi đời còn rất trẻ ở thời điểm 30/4 :

« Khi 30/4 tôi còn nhớ mãi : khi Cộng sản họ vào thì Bố tôi hoàn toàn ngủ, nên Mẹ tôi rất là sợ, sợ Bố tôi tự tử. Tại vì trong nhà Bố tôi có 1 cây súng M16 và 1 cây colt 45. Sau đó, vấn đề đầu tiên là phải đi dấu 2 cây súng. Đó cũng là một kỷ niệm kinh khủng, tôi nhớ là khi tôi đem hai cây súng ra thùng rác để quăng , tôi còn nhớ mãi là tôi quăng cái Bảo quốc huân chương của Bố tôi, tôi rất là đau lòng vì Bố tôi rất quý cái Bảo quốc Huân chương. Khi mà mình cầm nó mình bỏ vào thùng rác thì có cái gì đó làm mình rất, rất là đau lòng.

Mình nhìn về biến cố của một đất nước, mình không nhìn vào vấn đề chiến tranh mà mình nhìn vào định mệnh của một đất nước, tôi thì tôi rất tin vào định mệnh, cái destin (số mệnh) của một con người »

Sau khi nghe ông Dương văn Minh tuyên bố đầu hàng cái cảm giác đầu tiên của chị là cả bầu trời sụp đỗ, không ăn không ngủ suốt 48 tiếng đồng hồ, những ngày sau đó chị sống như 1 cái xác biết cử động, không biết làm sao tâm thần tê liệt, không phải vì sợ hãi mà không thể chấp nhận được sự việc vừa xảy ra

Chị Tuyết Lê

Với chị Tuyết Lê, một thuyền nhân, hiện định cư tại Hoà Lan thì đó là một ấn tượng kinh khủng trong đời. Bản tuyên bố của Tổng thống Dương văn Minh cũng là bản tuyên án cho đời sống yên bình của người con gái Cần thơ. Chị Tuyết Lê hồi tưởng lại:

« Sau khi nghe ông Dương văn Minh tuyên bố đầu hàng cái cảm giác đầu tiên của chị là cả bầu trời sụp đỗ, không ăn không ngủ suốt 48 tiếng đồng hồ, những ngày sau đó chị sống như 1 cái xác biết cử động, không biết làm sao tâm thần tê liệt, không phải vì sợ hãi mà không thể chấp nhận được sự việc vừa xảy ra. Sau những ngày kinh khủng đó thì chị nghĩ chắc chắn là mình phải đi tìm tự do, thà chết trên biển khơi, không thể nào sống với Cộng sản. Tại vì gia đình chị đã trốn chạy Cộng sản từ Bắc vào Nam, thì bây giờ có thêm 1 lần nữa cũng chẳng sao.

Chuyến vượt biên của chị thật ra cũng có nhiều trở ngại, chiếc ghe dài 12 mét, rộng 4 mét, tất cả gồm 65 người kể cả trẻ con lẫn người lớn , lạc phương hướng, 2 đêm 3 ngày lênh đênh trên biển. Bây giờ nhớ lại ấn tượng hãi hùng ngày 30/4 thì nó sẽ mãi mãi là niềm đau của chị »

Những năm đầu tiên sau ngày 30/4, anh Trần Tử Miễn đã không chọn con đường vượt thoát mà đã ở lại để tiếp tục chiến đấu cho đến ngày được Hội Ân xá quốc tế đưa qua Pháp năm 1981, trong khi đó Ba anh, một thành viên nồng cốt của Việt Nam Quốc Dân đảng đã bị bắt vào trại cải tạo. Trong ký ức của anh, sự thất thủ của miền Nam là một sự thật khó chấp nhận:

“Lúc Việt cộng vô, nói là Mỹ thua, thì nó làm cho tôi bàng hoàng, không bao giờ tôi chấp nhận mình thua, đó là tâm trạng của tôi. Cái sự thù hận của tôi là đối với những đứa mà nó giết hại thời đó, chứ còn đối với lớp sau thì tôi không thù hận ai cả”

Từ thành phố Stuggard, Đức quốc, anh Trần Huê cho biết ngày 30/4 với một số sinh viên du học tại đó là nỗi buồn, còn với một số sinh viên theo cộng sản lại là niềm vui. Và theo lời anh Trần Huê, ngay tại Đức, đã xuất hiện những « sinh viên 30/4 » nắm quyền trong giai đoạn chao đảo ấy. Bác sĩ Trần Huê lúc đó đã bắt tay vào việc giúp những người thuyền nhân tị nạn sớm nhất.

« Phải nói là tất cả anh em bị shock trong khi những người theo Cộng sản hội Đoàn Kết thì họ hồ hởi họ lên phá toà đại sứ VNCH ở Bonn, họ hồ hởi ăn mừng. Lúc đó, sau khi ra trường tôi đi làm ở vùng Stuggart, trong số 30.000 thuyền nhân thì họ nhận 4000 người. Mùa thu năm 79, họ cần gấp một bác sĩ Việt Nam biết tiếng Việt chăm sóc cho người tị nạn. Khi tôi nghe đề nghị như vậy thì tôi thích quá, sau giờ làm việc ở nhà thương của tôi làm thì tôi chạy tới để gặp người tị nạn Việt Nam »

Chiến dịch cứu vớt người vượt biển

Sau khi những buồn bã, thất vọng vì niềm đau mất nước đã tạm lắng xuống là bắt đầu cuộc vận động cứu vớt thuyền nhân. Những nỗ lực để đánh động lương tâm thế giới trước những con thuyền mong manh giữa đại dương bắt đầu đã có kết quả, Pháp với con tàu Ile de Lumière và Đức với con tàu Cap Anamur đã bắt đầu công việc cứu vớt thuyền nhân, từ Pháp quốc, anh Nguyễn Sơn Hà kể lại :

Từ lúc bài quốc ca trổi lên trong hội trường thì rất là lắng đọng, rất là nhiều người khóc, nhiều người đứng sững. Lần đầu tiên tôi nghe hát quốc ca trên xứ người , nhìn lại lá cờ vàng ba sọc đỏ, lúc đó tôi không biết mình đang đứng đâu và mình làm cái gì nữa, chỉ có biết khóc, và khóc và khóc thôi!

Chị Phương Khanh

« Sau 30/4/1975, Anh Bá (Trần văn Bá.RFA) kêu Hà và một số thanh niên Âu châu liên lạc với thầy Thích Minh Tâm, Cha Y, Cha Vân cùng đi qua Thuỵ Sĩ tuyệt thực để mà vận động Liên Hiệp Quốc cứu thuyền nhân Việt Nam. Vận động ròng rã suốt nhiều năm liên tục thì đến năm 1977 mới có tàu Ile de Lumière (bên Pháp) và đến năm 1979 mới có tàu Cap Anamur (bên Đức) »

Vượt qua nhiều trở ngại từ phía chính quyền, Tàu Cap Anamur của Đức cũng đã được hình thành và đã vớt được khoảng 30.000 thuyền nhân. Anh Trần Huê cho biêt:

« Khoảng 1978, ông Alfred, thủ hiến của tiểu bang Niederschachen tuyên bố là ổng sẵn sàng nhận 1000 người Việt Nam sang tiểu bang của ông ấy, thì cái quyết định của Doctor Alfred đã mở cửa để các quyết định tiếp theo nó dễ dàng hơn. Buổi tối, giờ tin tức để giúp cho « Một con tàu cho Việt Nam « thì ngày hôm sau tiền triệu vô…Ông tiến sĩ Neudeck có liên hệ với ông Jean Paul Sartre cho nên ổng nhận lảnh chương trình đó qua Đức . Con tàu Cap Anamur có được sự tài trợ của các thành phần xã hội Đức cởi mở, tiến bộ để tiếp tục chương trình cứu vớt thuyền nhân »

Trên con đường di tản, người con gái 16 tuổi lúc đó lạc mất Mẹ Cha. Chị Phương Khanh nhớ lại lúc mới đến Pháp năm 1975, cái Tết đầu tiên của chị với Tổng Hội Sinh Viên sau ngày mất nước là một hồi ức không thể phai nhoà. Chị kể lại:

« Cái sinh hoạt đầu tiên mà tôi đến với Tổng hội sinh viên là cái Tết « Ta Còn Sống Đây » Rạp Maulbert hơn 2000 người chật cứng trong đó. Từ lúc bài quốc ca trổi lên trong hội trường thì rất là lắng đọng, rất là nhiều người khóc, nhiều người đứng sững. Lần đầu tiên tôi nghe hát quốc ca trên xứ người , nhìn lại lá cờ vàng ba sọc đỏ , lúc đó tôi không biết mình đang đứng đâu và mình làm cái gì nữa, chỉ có biết khóc, và khóc và khóc thôi ! Rồi sau đó đến diễn văn của chủ tịch Trần văn Bá thì nó có một cái gì đó rất là thiêng liêng, nó vỡ oà lên trong phòng hội đó. Nó có một cái gì đó đánh động cái lương tâm của mình, cái ý chí đấu tranh của mình, nó bắt mình không được ngồi yên, không được ru ngủ mình với những cái gì mà mình đang có được ở bên Pháp »

Cuộc di tản 40 năm về trước mãi mãi là một cơn mộng dữ. Những cơn mộng có thể phai mờ nhưng không bao giờ mất dấu. Có lẽ ai cũng đồng ý rằng hồi tưởng về quá khứ không có nghĩa là ở lại mãi với ngày tháng đó mà nhớ về quá khứ để không quên mình là ai. Nhớ về quá khứ để chuẩn bị một tương lai, trong đó, những lỗi lầm của ngày hôm qua sẽ không phải lập lại.

…………………………………………………………………………………..

Fwd: Phố của Thủ Đô miền Nam VNCH ( bài viết của thời 1957 ….)
Hau Nguyen to:….,me

> Subject: Phố của Thủ Đô miền Nam VNCH ( bài viết của thời 1957 ….)
hoi uc au chau 2

Đại lộ Hai Bà Trưng

> Phố của thành phố
> Bài viết này của nhà văn Bình Nguyên Lộc đăng lần đầu trên báo Nhân Loại năm 1957, sau đó được in trong tập truyện Những bước lang thang trên hè phố của gã Bình Nguyên Lộc, xuất bản năm 1966. Đây là một tản văn thú vị về tên đường phố Sài Gòn thời điểm đó, xin mạn phép đăng lại để mọi người cùng nhớ và góp chuyện cho vui.
> (Ảnh minh họa trong bài được sưu tập trên mạng)
>
> Đi trên đại lộ Hai Bà Trưng tôi bỗng sực nhớ lại một điều rồi tủi thân cho bọn đàn ông của ta. Là hễ đờn ông được danh vọng thì đàn bà cũng thơm lây, nhưng khi đàn bà nổi danh thì tên tuổi đàn ông chìm sâu thêm.
>
> Đành rằng ông Thi Sách chỉ có mỗi một cái công nhỏ đối với nước nhà là bị viên thái thú Tàu giết thôi, nhưng quên mất ông ấy cũng tội.
>
> Vậy nên tôi đã đi khắp Sàigòn để tìm xem có con phố nào là phố Thi Sách không ? Có. Hoan hô quí vị đặt tên đường đã nhớ dai hơn nhân dân.
>
> Nhưng mà tội quá, ông Thi Sách ở mãi bên kia nhà thương Đồn Đất, ở xóm ngoại nhân, không bao giờ có người Việt bước chân đến. Ông nầy đã chết vì tay ngoại nhân mà hương hồn ngày nay vẫn lẩn quẩn với ngoại nhân.
>
> Ông Thi Sách và Hai Bà Trưng chạy song song với nhau cho tới mé nước, và không bao giờ gặp nhau cả, đó cũng là một điểm đáng buồn cho cặp vợ chồng ấy.
>
> Ông Nguyễn Thái Học mà còn ngậm cười được vì đã gặp Cô Giang, Cô Bắc ở hai ngã ba chợ Cầu Muối, đằng nầy ông chồng Bà Trưng chỉ nghe văng vẳng tiếng bà đâu đó thôi.
>
> Bà Sương Nguyệt Ánh cũng không bao giờ đi thăm cha được, vì bà ở xóm Bùi Chu còn cụ đồ lại qui điền mãi tận trên Tân Định.
>
> Vị nữ anh hùng thứ nhì của ta, Bà Triệu cũng bị ta quên mất vì bà cũng ở xóm ngoại nhân, trong Chợ Lớn.
>
> Tuy nhiên, cũng phải nhìn nhận rằng đô thành đặt tên rất khéo, Công chúa Huyền Trân ở một căn phố buồn hiu, sau dinh Độc Lập, buồn như con đường thiên lý ngàn dặm băng rừng đưa công chúa từ Việt sang Chiêm.
>
> Còn cái phố có nhiều tiệm mì, tiệm ăn và tửu lâu trong Chợ Lớn mà đặt tên là phố Tản Đà thì tuyệt diệu bởi vì Tản Đà không phải là thi sĩ mà thôi, lại còn là thực sĩ nữa.
hoi uc au chau 3

> Chợ Bình Tây
>
> Nếu đô thành có bất công chút ít, chẳng qua là vì quên đó thôi. Chẳng hạn như ông Phan Huy Chú được nêu danh trong Chợ Lớn mà ông Phan Huy Vịnh lại không.
>
> Đô thành lại trọng văn nghệ lắm. Không có nhà văn, nhà thơ nào ngày xưa mà không được lấy tên đặt tên phố cả, khiến lũ văn nhân thi sĩ hậu sanh là ta đây cũng nức lòng muốn cố gắng để có thể được biệt đãi như thế về sau.
>
> Chỉ phiền văn nhân thi sĩ của thế hệ ta đông quá, mà đường phố chỉ có hạn thôi, dễ gì tìm được một chỗ “mần”.
>
> Có một điều đáng chú ý là họ Nguyễn chiếm đa số trong các phố Sàigòn. Dân tộc ta họ Nguyễn cũng như dân tộc Pháp họ Dupont vậy mà !
hoi uc au chau 4

> Đại lộ Nguyễn Huệ

> Một người Pháp quen biết kể chuyện rằng thuở Đức chiếm đóng nước Pháp, một khi kia quân đội Đức bố ráp ở một ngoại ô nhỏ tại Ba Lê để bắt ông Dupont nào đó. Cuộc bố ráp thi hành xong thì chúng bắt được tất cả tám trăm mười bảy ông Dupont, vừa già, vừa trẻ, đó là chúng đã loại trừ những cậu Dupont oắt con ra rồi đó.
>
> Một cựu thông ngôn nhà binh Pháp ở đây cũng kể rằng một khi kia Pháp ruồng bố ở làng nọ để bắt Nguyễn Thị Hai nào đó. Chỉ một làng ấy thôi, mà họ đã bắt đến bốn mươi tám Nguyễn Thị Hai chẳn chòi.
>
> Vậy thì họ Nguyễn chiếm đến 55 con phố ở Sàigòn – Chợ Lớn không phải là chuyện lạ. Đó là chưa kể những bà Sương Ngyệt Ánh v.v… cũng là họ Nguyễn mà không nêu họ ra. Bà Đoàn Thị Điểm cũng có người bảo thật ra là Nguyễn Thị Điểm, và biết đâu cô Giang, cô Bắc lại không là họ Nguyễn.
>
> Họ Nguyễn được ưu đãi như thế, còn họ Tô không biết vì sao lại ra rìa. Năm kia trên Hòa – Hưng có một con phố tên là Tô Hiến Thành. Năm nay không thấy tên phố đó nữa.
>
> Ngoại nhân có công với dân tộc cũng được nêu danh, cho công bằng. Nhưng không hiểu ông J.J Rousseau có công trực tiếp gì với dân tộc ta. Còn ba ngoại nhân khác rất có công là Tích Quang, Nhâm Diên, và Sĩ Nhiếp lại vắng bóng.

hoi uc au chau 5
> Đường Lê Thánh’ Tôn

hoi uc au chau 6

Đường Phạm Ngũ Lão
>
> Sàigòn có một con phố cong queo một cách rất ngộ nghĩnh, được đặt tên là phố Cống Quỳnh. Thật là khéo, vì cách lập luận và hành động của ông Cống Quỳnh cũng cong cong quèo quẹo như con phố kỳ dị ấy.
>
> Tiếc rằng Cống Quỳnh có lẽ chỉ là một nhân vật tưởng tượng thôi.
>
> Sàigòn đặc biệt vì có phố không vỉa hè, thí dụ đoạn phố Đề Thám trước dãy nhà cũ đối diện với hông nhà thờ Tin Lành.
>
> Thật ra thì có một vỉa hè rộng độ tám tấc, nhưng đã lì xuống bằng với mặt đường, ô tô tha hồ leo lên và người đi bộ rất lắm khi phải nhảy vào nhà người ta để thoát chết.
>
> Lại có vỉa hè mà người đi bộ không được xử dụng, thí dụ vỉa hè Cô Giang tại chợ Cầu Muối. Người đi bộ ở đoạn nầy hễ xuống đường thì bị xe cán, còn lên lề thì bị mấy chị bạn hàng đuổi, vì mấy chị mướn vỉa hè ấy có đóng tiền chỗ đàng hoàng.
>
> Thành ra qua đoạn đường đó y như là qua cầu đoạn trường, lên lề thì đoạn tâm, còn xuống thì đoạn cẳng.
>
> Có lắm vỉa hè công khai dùng làm ga-ra, nói công khai vì xe để trên ấy nằm đó năm nầy qua năm khác mà không sao cả. Thế nên chỉ mướn một căn phố bé nhỏ thôi mà người ta có thể mở ga-ra to là nhờ vậy.
>
> Nói đến vỉa hè không thể không chú ý đến những vỉa hè mức độ khác nhau, khách đang đi bỗng sụp chơn suýt ngã. Ấy, nhà bên nầy xây cao một tấc năm, nhà bên kia chỉ xây một tấc thôi mà. Vì mạnh ai nấy xây vỉa hè nên vỉa hè lại mang đủ màu sắc, có quãng xanh, quãng vàng, quãng xám, và lại kiến thiết bằng đủ cả vật liệu : gạch xi-măng, xi-măng trắng, gạch thẻ, gạch Tàu, nhựa, đá ong. Sợ nhứt là vỉa hè đá ong trên đường Thủ Khoa Huân. Đá ong lổm chổm khiến bộ hành không lọi chân cũng trặc cẳng.
>
> Nếu đô thành tự làm lấy vỉa hè rồi bắt người ta trả tiền thì tình trạng nầy đã không có.
>
> Bình Nguyên Lộc
> Nhân Loại – 1957

*
> Bình Nguyên Lộc (7 tháng 3 năm 1914 – 7 tháng 3 năm 1987), tên thật là Tô Văn Tuấn, là một nhà văn lớn, nhà văn hóa Nam Bộ trong giai đoạn 1945-1975. Ngoài bút danh Bình Nguyên Lộc, ông còn có các bút danh Phong Ngạn, Hồ Văn Huấn, Tôn Dzật Huân, Phóng Ngang, Phóng Dọc, Diên Quỳnh…

,………………………………………………………………………

Chúng tôi vẫn sống

Nguồn: Huỳnh Kỳ Anh Tú/Dân làm báo-31-3-2015

Huỳnh Kỳ Anh Tú (Danlambao) – Tôi là một bác sĩ, sinh ra và lớn lên tại Sài Gòn nhưng sau này tôi đi du học và đã định cư tại nước ngoài từ lâu. Nhân tháng 4 năm nay, tôi muốn viết một thông điệp cho gia đình, bạn bè tôi, cùng tất cả những người từng là công dân Việt Nam Cộng Hòa, con cháu của họ, nhất là những đứa trẻ cùng thế hệ 8X như tôi.

Cha tôi là một sĩ quan quân lực VNCH, cấp bậc Trung úy. Ông có may mắn hơn nhiều bạn bè, khi chỉ phải đi tù cải tạo một thời gian ngắn. Năm 1979 cha tôi ra tù và về sống ở Sài Gòn (xin lỗi vì tôi không thể viết tên của kẻ tội đồ dân tộc mình), một năm sau tôi sinh ra.

Từ khi tôi biết nhận thức thế giới xung quanh cho tới năm 18 tuổi, cha và mẹ KHÔNG BAO GIỜ nói với tôi bất cứ điều gì có liên quan đến chính trị hay nói xấu chế độ mới, cha tôi sống hiền lành, nhẫn nhục nuôi con cái, hòa đồng với tổ dân phố. Cha ghét chiến tranh và không bao giờ nhắc đến thời chiến đấu xa xưa của mình, đến mức không cho tôi chơi những món đồ chơi như súng, máy bay. Mẹ tôi thì cấm tôi nghe nhạc vàng hay những bài ca về lính, dù vậy sau này tôi vẫn lén nghe. Họ để cho tôi tự do lựa chọn con đường mình đi, ngay cả tôn giáo. Vì thế những gì tôi viết cho các bạn xem đưới đây là do CHÍNH BẢN THÂN tôi nhận thức được từ cuộc sống xung quanh mình.

Với tính cách giang hồ lãng tử của cha tôi, trước 30-4 ông vốn đã không coi trọng tiền bạc, không nhà cửa, tiền vàng, chỉ có 2 bàn tay, chiếc xe máy cùng người vợ hiền nên sau 30-4 ông không mất gì cả về vật chất. Tuy nhiên, nỗi mất mát về tinh thần ám ảnh ông suốt đời như một vết thương không bao giờ lành được.

Nhà tôi rất nghèo, lại phải chịu bất công từ mọi phía, mẹ tôi bị ép phải nghỉ sớm do lý lịch của cha, bà phải đi buôn thuốc men, thực phẩm để nuôi tôi lớn. Lúc tôi 3-4 tuổi cha tôi đi làm vắng nhà cả ngày, ông làm đủ thứ nghề, buôn bán hàng phế liệu, đạp xích lô, đến tối mịt mới về nhà. Ngày nghỉ ông chở tôi lang thang trên các con đường ở Sài Gòn bằng chiếc xe đạp. Đường phố Sài Gòn thập niên 80 còn hoang vắng, tôi để ý một điều là ông luôn gọi những con đường bằng tên cũ, chỉ cho tôi những tòa nhà và tên gọi của chúng, nhiều khi tôi thấy ông dừng rất lâu ở một nơi nào đó và khóc.

Lớn lên một chút, ông luôn tìm cách hướng tôi về những điều chân thiện mỹ, thay vì phó mặc cho sự nhồi sọ của trường lớp, đội nhóm. Tôi còn nhớ ông mua sách báo cũ thời VNCH cho tôi đọc, nhất là Thiếu Nhi tuần báo. Ngày tôi được kết nạp đội, cha tôi ôm tôi vào lòng và ông rất buồn, nhưng ông dắt tôi đi xem phim Batman và đêm đó trước khi ngủ kể cho tôi nghe ông đã phải đi bộ hơn 5 cây số để mua sữa cho tôi uống như thế nào.

Tôi nhìn ra rất sớm sự giả dối, bất công, ngay trong trường lớp của mình, những bài văn mẫu, những người thầy ép học sinh học thêm tại nhà, những bài học lịch sử dối trá.

Tôi muốn nói một điều với các bạn cùng lứa tuổi, rằng thế hệ sinh ra năm 78-80 tại Sài Gòn như chúng tôi PHẢI nhận thức rõ một điều rằng: Dù thể chế Việt Nam Cộng Hòa đã chết vào ngày 30/4/1975, nhưng nó vẫn tiếp tục cưu mang, nuôi dưỡng những đứa trẻ như tôi bằng tất cả máu thịt từ còn sót lại. Bọn cộng sản KHÔNG góp một chút công ơn nào hết trong việc nuôi dưỡng, che chở và giáo dục chúng tôi, thậm chí ngược lại là khác, chính bọn chúng là nguyên nhân gây ra mọi đau khổ, bất công, rủi ro cho số phận những đứa trẻ sinh ra giai đoạn này.

Tôi ra đời trong một nhà bảo sinh của VNCH, khi tôi đau ốm, các bác sĩ và nữ hộ sinh được đào tạo từ ngành y tế VNCH đã chăm sóc cho tôi, dù họ là những người bị ngược đãi, phải sống cực khổ ăn không đủ no vì chính sách nô dịch của cộng sản, nhưng vẫn giữ trọn y đức và trách nhiệm. Từ khi cắp sách đến trường tôi may mắn hơn những đứa trẻ miền Bắc, vì được che chở dưới những lớp học, mái trường do cha anh chúng tôi, công dân của VNCH xây nên, chúng tôi may mắn được xem phim trong những rạp ciné hiếm hoi còn sót lại ở Sài gòn của VNCH.

Trong khi đó, bọn cộng sản Bắc Việt đã làm gì cho chúng tôi? Từ tuổi sơ sinh, toàn bộ trẻ em như tôi phải chịu cảnh suy dinh dưỡng, ăn không đủ no, không có sữa để uống. Cha mẹ chúng tôi phải chạy ăn từng bữa, hy sinh những gì tốt nhất cho chúng tôi trong khi họ phải ăn độn bobo, khoai mì. Khi đau ốm bệnh tật không có đủ thuốc men chữa trị, phải đi vay mượn, đi mua kháng sinh ngoài chợ đen. Chúng tôi lớn lên, đứa thì lùn đứa thì còi xương, tội lỗi đó là do ai gây ra? Khi đi học chúng tôi bị nhồi sọ bằng những chuyện dối trá nhảm nhí, bị những cô giáo xã hội chủ nghĩa đánh đập không thương tiếc, phải đi nhặt lon, nhặt rác, dùng những cuốn sách giáo khoa cũ nát, đen thui, đêm về phải học bài dưới ánh đèn dầu tù mù, chịu nóng, muỗi đốt để mà kiếm cho được tấm giấy khen vô nghĩa. Lớn lên một chút, chúng tôi lại bị những thầy cô giáo bóc lột đến tận cùng bằng những chiêu trò dạy thêm tại nhà, ai không đến nhà thầy học thêm thì bị đì, bị đối xử bất công trên lớp. Lúc trưởng thành ra đời thì tương lai u tối vì 2 chữ lý lịch gia đình, phải hối lộ đút lót khắp mọi nơi mới kiếm được miếng ăn.

Tôi lại muốn nói điều này cho bọn cộng sản và con cháu của chúng: Việt Nam Cộng Hòa vẫn sống, và chưa bao giờ chịu khuất phục bởi bạo lực và sự đàn áp của cộng sản. Những người con của thế hệ VNCH vẫn sống, dù nhẫn nhục, nhưng không cúi đầu, không bao giờ chấp nhận đi chung đường với điều ác và dối trá.

Bọn cộng sản không bao giờ khuất phục được ý chí và tinh thần của những công dân VNCH, chúng không bao giờ hiểu được tại sao cha mẹ chúng tôi đặt tên cho con cái mình là Nguyễn Đình Bảo, Nguyễn Khoa Nam hay Phan Nhật Nam (cha tôi đặt tên cho tôi là Huỳnh Kỳ Anh Tú, và tôi tự hào vì điều đó!). Tại sao mấy chục năm nay người ta vẫn thích nghe nhạc của Lam Phương, Trần Thiện Thanh, Trúc Phương và dòng nhạc này đang hồi sinh.

Bọn cộng sản muốn trả thù hèn hạ con cháu của VNCH bằng cách xét lý lịch, thì chúng tôi, những công dân VNCH cũng dùng lý lịch, căn cước của cha anh mình như một dấu hiệu nhận diện nhau, đùm bọc nhau. Cuộc đời tôi đã trải nghiệm không biết bao nhiêu sự ưu đãi, giúp đỡ từ bạn bè của cha tôi, hay thậm chí những người xa lạ, mỗi khi họ tình cờ biết cha tôi từng là sĩ quan quân lực VNCH, một người thầy nổi danh đã nhận tôi vào lớp luyện thi đại học và miễn học phí (hơn 2 triệu đồng) vì tôi là con của lính VNCH, nhiều bác sĩ đã chữa bệnh cho tôi hồi nhỏ không nhận thù lao khi biết cha tôi từng đi lính, một linh mục tại nhà thờ Dòng chúa cứu thế dạy kèm tiếng anh và tiếng Pháp cho tôi suốt 3 năm mà không lấy tiền.

Bọn cộng sản cũng không bao giờ hiểu được tại sao bên cạnh chúng không bao giờ có mặt những người trí thức, nhân tài hậu duệ của VNCH, vì những cá nhân này không bao giờ chấp nhận vào đoàn thanh niên cộng sản, không bao giờ đi làm cho nhà nước, và một khi ra nước ngoài du học không bao giờ quay trở lại để phục vụ cho chúng, chúng có kêu gào 1000 năm nữa và dụ dỗ bằng tiền tài hay danh lợi, những người này cũng sẽ không bao giờ trở về cộng tác với chúng. Chúng chỉ tìm thấy những kẻ cơ hội, bợ đỡ, bất tài và ngu ngốc chấp nhận làm nô lệ cho chúng mà thôi.

Đối với một số người, ngày 30-4 có thể là ngày đau buồn, họ cho đó là quốc hận, một số những kẻ ăn trên ngồi trước thì hoan hỉ ăn mừng, mừng cho việc họ đã giết, cướp chính anh, chị em một nhà của mình, nhưng tôi nhận rõ một điều là Việt Nam cộng hòa vẫn chưa chết, Sài gòn có thể bị chiếm đóng, chúng ta có thể bị đô hộ, nhưng công dân và hậu duệ của VNCH vẫn sống, vẫn vươn lên, vẫn đang giúp đỡ nhau, chúng tôi miễn dịch với mọi sự dối trá và độc ác của cộng sản, nhiều người vẫn đang đi tìm tự do, và sẽ có ngày chân lý sẽ chiến thắng.

Huỳnh Kỳ Anh Tú
danlambaovn.blogspot.com

…………………………………………………………………………………

Quốc Hận: 40 Năm Nhìn Lại
Nguồn:Vietbao.com-30/03/2015

Vi Anh

Năm 2015 là năm thứ 40 Việt Nam Cộng Hoà bị bức tử. 40 năm Quốc Hận người Việt Quốc Gia sống không nguôi, chết ôm xuống tuyền đài không tan. Cuộc chiến đấu chống độc tài đảng trị toàn diện của CS 40 năm qua của người Việt trong ngoài nước còn tiếp diễn. Mỗi lần gần đến ngày 30 tháng Tư là đến mùa Quốc Hận. Người Việt Hải Ngoại đầy đủ tự do luôn chuẩn bị làm lễ tưởng niệm, một lễ chánh trị lớn nhứt trong năm và là cơ hội ôn cố tri tân.

Chánh nghĩa chống độc tài của người Việt Quốc gia càng ngày càng sáng tỏ. Những ý đồ lẻ tẻ chủ trương không gọi ngày 30-4-1975 là ngày Quốc Hận, mà gọi là Ngày Tự Do của nhóm Hoà Giải, Hoà Họp, Ngày Thống Nhứt của CS Hà nội bị người Việt hải ngoại đại đa số là quân dân cán chính Việt Nam Cộng Hoà và gia đình cùng hậu duệ phản đối, bác bỏ, tịt ngòi luôn.

Với độ lùi thời gian khá đủ, hồ sơ giải mật quá nhiều, nghiên cứu của các đại học vô tư, lịch sử đã trả lại chân lý cho Chiến tranh Việt Nam, chánh nghĩa mà mấy thế hệ người Việt hy sinh những ngày hoa mộng để vào Quân đội Việt Nam Cộng hòa chiến đấu tự vệ chánh đáng, chống lại làn sóng xâm lược của CS Bắc Việt đánh chiếm Miền Nam do Liên xô và Trung Cộng mà Tổng Bí Thư Lê Duẩn của Đảng CSVN tự hào khoa trương trong Đảng.

Việt Nam Cộng Hòa còn tồn tại sau khi Mỹ đồng minh “Việt Nam hóa chiến tranh” để rút quân về. Việt Nam Cộng Hòa còn tồn tại sau khi Mỹ ký Hiệp định Paris năm 1972 dù hiệp định này mặc thị cho quân Bắc Việt xâm nhập ở lại Miền Nam mà quân Mỹ rút hết trọi. Việt Nam Cộng hòa còn tồn tại đến 30-4-1975. Nói chung kể ra quân dân cán chính Việt Nam Cộng Hòa đã “rất chì” lắm rồi. Có nhiều nghiên cứu của Mỹ so sánh nếu quân lực Mỹ bị cúp xăng dầu, đạn dược, máy bay như Quân Lực VNCH bị thì quân lực chỉ chịu nổi 3 tháng, chớ không phải 3 năm như quân lực VNCH.

Mầm móng thất bại không phải ở VN mà sinh sôi nẩy nở ở bên Mỹ. Mỹ thất bại ngay tại Mỹ, ngay ở đồi Capitol, tại thủ đô Washington DC của Mỹ, có thể thấy rõ trong cuộc nói chuyện mật của mấy đời tổng thống Mỹ dính vào Chiến Tranh Việt Nam. Những băng ghi âm được giải mật gần đây cho thấy Chiến tranh Việt Nam là chuyện bất đắc dĩ của hầu hết mấy đời tổng thống Mỹ Dân Chủ lẫn Cộng Hòa. Thử hỏi một cuộc chiến mà người đồng minh chánh yếu lại tham chiến bất đắc dĩ, chưa đánh đã muốn đàm, mới vào đã tính tính rút như vậy, dù chánh quyền và nhân dân Việt Nam có Trần Hưng Đạo, Quang Trung tái thế cũng không thắng nổi, chớ đừng nói TT Ngô đình Diệm hay Nguyễn văn Thiệu.

Một đồng minh bất đắc dĩ như vậy mà lại muốn làm thay nghĩ thế cho quân dân Việt Nam Cộng hòa, giành vai trò lãnh đạo chỉ huy bằng áp lực đồng tiền viện trợ, bằng cách mua chuộc lũng đoạn nội bộ chánh quyền, quân đội nước bạn, tiếp tay cho phe này đánh phá, lật đổ phe kia, thử hỏi bạn còn sức đâu, còn tinh thần đâu mà chống CS trên nguyên tắc là kẻ thù chung của Việt Mỹ.

Cuộc họp xét lại Chiến tranh Việt Nam ở Lubbock, Texas mới đây cho thấy một sự thật làm nỗi buồn nhược tiểu, nỗi nhục da vàng Việt Nam thêm thấm thía. Cuộc thảo luận của Cố vấn Kissinger với TT Nixon, hai người ở trong phòng lạnh huy hoàng, tưởng mình là người ăn học cao, làm chánh trị giỏi, thông kim quán cỗ, quyết định rút quân ra khỏi Việt Nam để tạo điều kiện cho TT Nixon đắc cử. Hai người chân chưa đụng bùn lầy chiến trường Việt Nam, chưa nhỏ một giọt máu, một giọt nước mắt, một giọt mồ hôi trong Chiến tranh Việt Nam như mấy chục triệu quân dân cán chính VNCH và gần một triệu quân nhân Mỹ mà đi quyết định cho số phận những người trong cuộc. Mà quyết định vì quyền lợi ứng cử của riêng mình, mới độc địa làm sao ấy. Đau thương nhứt là Cố vấn Kissinger đánh giá 2 năm sau Việt Nam hóa chiến tranh coi như Việt Nam CH bị xóa số, đi vào dĩ vãng, với cách nói và giọng nói vô cảm, vô tình không thể tưởng tượng được ở một người có ăn học.

Và phóng lao phải theo lao, Nixon và Kissinger tìm cách bóp méo sự thật về Việt Nam CH để hậu thế không đổ tội phản bội đồng minh, hại bạn chiến đấu. Kissinger vua đi đêm, vua xì tin tạo điều kiện hạ thể dân quân Việt Nam CH. Thời đó cứ mở báo Mỹ ra xem tin thì thấy tướng tá tham nhũng, lính tráng Việt Nam đào ngũ, sinh viên biểu tình, ký giả đi ăn mày, âm mưu đảo chánh, tướng này đánh tướng kia. Bình luận thì chê Chiến tranh Việt Nam sai lầm, làm quân nhân Mỹ bị “hội chứng”, kinh tế Mỹ bị suy thoái, xã hội Mỹ bị phân hóa, chánh trị Mỹ bị chia rẽ. Dân chúng bị phản chiến bằng truyền thông đại chúng, lần lượt ảnh hưởng Quốc Hội. Quốc hội trói tay Hành Pháp, cắt viện trợ cho Việt Nam, buộc quân đội Mỹ rút quân như thua trận lần đầu tiên trong quân sử Mỹ. Sau đó hủy bỏ định chế quân dịch đã có từ lâu ở Mỹ. Một cuộc chiến mà một ngày tốn hàng tỷ, giờ chót Quốc Hội Mỹ chỉ viện trợ 1 tỷ cho nguyên cả năm, rồi sau đó cắt thêm 300 triệu nữa thì quân đội Việt Nam Cộng Hòa coi đã trắng tay. CS Bắc Việt được thế đổ xô vào Miền Nam, Việt Nam Cộng hòa kêu cứu, Mỹ đánh chữ làm thinh, bất động như đồng lõa. Sau cùng Chiến tranh Việt Nam phải kết thúc, CS Hà nội tóm thâu cả Miền Nam.

Để chống đỡ búa rìu dư luận về tội phản bội đồng minh, nhận định sai lầm tình thế và muốn làm thay nghĩ thế cho người trong cuộc, Nixon, Kissinger ngoài việc đổ tội cho Quốc hội, cho Phản Chiến còn đưa ra lập luận bỏ Việt Nam là bắt con tép để nhữ con tôm Trung Cộng, phá vỡ hệ thống CS quốc tế, làm cho Liên xô và Đông Âu sụp đổ. Biện luận đó hiện giờ vẫn còn trong giới chánh trị khuynh tả và phản chiến. Nhưng không thuyết phục trước những sự thật, Phi luật Tân không tin Mỹ, đuổi Mỹ ra khỏi nước, chỉ mới cho Mỹ đổ quân lại thời TT Bush chống khủng bố. Đại Hàn cũng thế tự rèn cán chỉnh quân, tự tạo nội lực, phong trào quốc gia vươn lên thường biểu tình đuổi Mỹ. Và hầu hết những nhà phân tích chánh trị quốc tế đồng ý với nhau rằng Liên xô sụp vì đột quị kinh tế do chạy đua võ trang với Mỹ, chớ không phải do Mỹ đi được với TC.

Sự thật vẫn là sự thật; chân lý lịch sử dù Thượng Đế cũng không đổi được. Một thời gian sau Mỹ hoàn toàn rút quân ra khỏi Việt Nam, trong khi Chiến tranh Việt Nam còn tiếp diễn, chính Đại sứ Mỹ Martin về tường trình quân đội Việt Nam CH chưa bao giờ giữ vững an ninh lãnh thổ, chánh trị Việt Nam chưa bao giờ ổn định hơn lúc bấy giờ, nhờ tự quyết và tự chủ. Và 30 năm sau, tại Texas, Viện Lubbock, những học giả và sử gia ngồi lại tái thẫm định, trả chân lý, trả chánh nghĩa lại cho Chiến tranh Việt Nam, cho Việt Nam CH và cho Quân lực VNCH.

Người Việt bây giờ đã có gần 2 triệu rưởi người là công dân Mỹ không cần, không buồn trách móc mấy ông học nhiều, làm chánh trị cao Mỹ đã đưa đẩy nước Mỹ phản bội đồng minh, bức tử VNCH vì cái đó đã đi vào quá khứ rồi. Điều quan trọng là người sau không phạm sai lầm trước nữa. Điều quan trọng là biết sữ dụng chân lý, kinh nghiệm trong Chiến tranh Việt Nam cho tương lai. Chiến tranh Iraq, Afghanistan rất cần những kinh nghiệm ấy để Mỹ đừng mang tiếng phản bội đồng minh, bỏ nhân dân, chánh quyền, và quân đội Iraq, Afghanistan, Do thái thân cô thế cô giữa biển hận thù Hồi giáo cực đoan. Và người Mỹ gốc Việt cũng cần rút kinh nghiệm để ứng phó thích hợp và đúng đắn trong công cuộc quốc tế vận đối với Mỹ trong sự nghiệp c đấu tranh cho tự do, dân chủ, nhân quyền VN./. (Vi Anh)

………………………………………………………………….

Add a Comment

Your email address will not be published. Required fields are marked *

tumblr hit counter