1.Khách sạn 22 (Khôi An/Việt Báo)-2.Ông Mỹ bán thức ăn chay..(NV)-3.Bài toán chia bò-4.”Vĩnh biệt Phây-Búc”

Fwd:KHÁCH SẠN 22

Tác giả : Khôi AN
Kim Vu to:…,me (Hình minh họa-NN sưu tầm)

Bài rất hay!

 KL

-o0o-

Giớ thiệu tác giả Khôi An (Đức Quý)-

Tâm ơi,
Cô Khôi An này viết rất hay, và giỏi nữa. Có bài Intel, là chuyến cô về VN để huấn luyện dân VN thêm về kỹ thuật…vv…rất đáng quí.
Nhưng bài Khách Sạn 22 này vừa mới đăng ngày 8 tháng 2, 2014, cũng nhiều người đọc lắm, nhưng chưa đựơc giải thưởng…… gì. Cúôi năm họ mới tuyển chọn.
Cô Khôi An đựơc giải chung kết năm 2013 (như lời giới thiệu dưới đây) với bài Những Đọan Đường Cho Nhau (đăng 6/2013), nhưng không phải bài Khách Sạn 22 .

“Khôi An, giải Chung Kết Viết Về Nước Mỹ 2013, từng là một thuyền nhân. Từ tuổi học trò, cô cùng người em gái phải rời bố mẹ, vượt biển năm 1983. Mười năm sau, 1993, cô đã là một kỹ sư đại diện Intel đi “bàn giao kỹ thuật” cho các kỹ sư bản xứ tại phân xưởng Intel ở Penang, Mã Lai.”
Vài giòng góp ý với NN Web. – Đức Quý

-o0o-

             Lisa choàng dậy, ngóc đầu nhìn. Xe bus vừa đi qua Palo Alto Highschool, nghĩa là chỉ còn vài phút nữa thì tới trạm. Nó gạt cái chăn mỏng sang một bên, chống tay ngồi dậy. Bên cạnh, Ba vẫn đang ngủ, đầu dựa vào cửa kính, miệng hơi há ra. Trong giấc ngủ mà trông ổng cũng như đang lo lắng chuyện gì, đôi lông mày nhíu lại. Lisa lặng lẽ xếp cái chăn rồi nhét vào túi xách dưới chân.

Đèn trong xe bật sáng, tiếng nói quen thuộc từ chiếc loa tự động phát lên “Xe bus đang vào trạm Palo Alto Transit Center , trạm cuối của tuyến đường 22. Xin mọi người chuẩn bị xuống xe.” Trong khoảnh khắc, trong xe ồn ào hẳn lên với tiếng ngáp, tiếng ho, tiếng lôi kéo hành lý, tiếng càu nhàu. Ba nó dụi mắt lia lịa, gài lại áo ấm rồi khoác mấy túi đồ đạc lên vai. Xe ghé trạm rồi từ từ ngừng lại. Người ta đổ xô ra cửa, Lisa và Ba cũng hòa vào dòng người, xuống xe.

Lisa đút hai tay vào túi áo. Tháng Mười rồi, đứng ngoài trời đêm mà không dấu kỹ thì chỉ một lát là hai bàn tay nó lạnh như nước đá. Từ xa, hai con mắt khổng lồ, vàng rực của chuyến xe đi hướng Đông đã hiện ra sau lớp sương mỏng. Lisa thở phào, nó sắp được chui vào trong xe ấm áp…

Chuyến xe về Eastridge Mall cũng gần đầy người. Như thường lệ, hai ba con Lisa nhanh chân giành được băng ghế cuối. Nó ngồi sát cửa sổ, nhìn ra ngoài. Con đường El Camino Real ở khúc này là đẹp nhất vì đi ngang qua thành phố Palo Alto , nơi nó nghe nói rằng chỉ có những người giàu kinh khủng mới có nhà ở đó. Xe đang đi dọc theo khoảng đất rộng hút mắt với những cây thông thật cao, dọc hàng rào có treo những tấm hình rực rỡ về trường đại học Stanford. Cái trường này nó biết vì mùa hè rồi trong những ngày trời nắng ấm hai ba con nó có lang thang đi bộ từ bến xe bus vô đó. Nó mê cái bãi cỏ mênh mông, xanh rờn ở phía trước tòa nhà mái đỏ ngay giữa trường, nhìn xéo qua ngọn tháp cao có cái nóc tròn trông giống như cây viết khổng lồ. Nằm ở đó nhìn lên thì trời xanh biếc, cây xanh nõn nà, nhìn chung quanh thì ai cũng tươi tốt, mạnh khỏe, tự tin. Nó nghĩ cảnh đó chắc giống như ở thiên đàng. Nó mê bãi cỏ đó đến nỗi có lần buột miệng hỏi “Ba ơi, nữa lớn con xin vô học trường này, được không Ba?” Ba nhìn nó, miệng há ra mà không nói được tiếng nào, một lát sau ổng mới thốt nên lời “Ờ…ờ…được chứ con… Con ráng hết sức thì… chắc được…” Nghe nói vậy nhưng nó không tin tưởng lắm vì điệu bộ của Ba nó giống y hệt như lần nó hỏi “Ba ơi chừng nào Mẹ về? “. Chỉ khác là hồi đó nó mới sáu tuổi và chưa hiểu “chết” nghĩa là không bao giờ về nữa.

Áp trán vào khung kính lạnh buốt và nhớ lại, nó nghĩ là muốn vô trường Stanford thì nó phải có cây đũa thần. Mà cũng chưa chắc, vì nếu cây đũa chỉ cho một điều ước thì nó sẽ ước cha con nó có một nơi để ở. Nó rất sợ thời gian ngủ lang thang trên mấy băng ghế lạnh ngắt trong những công viên tối thui. Có những đêm trời mưa lâm râm, hai ba con nó nằm ngược đầu đuôi trên băng ghế, đắp chung tấm nylon. Tiếng mưa lơi lộp độp trên nylon làm nó không ngủ được, thêm nữa nó cứ sợ ngủ quên mà trời mưa lớn thì ướt hết sách vở ở trong cái backpack gối dưới đầu. Sau mấy đêm như vậy, giờ hễ thấy trời âm u chuyển mưa là hai lòng bàn chân nó tự nhiên lạnh ngắt.

Cũng may mà hai cha con nó khám phá ra Khách Sạn 22.

Đó là cái tên mà những người không nhà đặt cho tuyến xe bus số 22.

Buổi chiều hôm đó, Lisa cứ nấn ná trên bãi cỏ xanh của trường Stanford nên tới hơn 8 giờ tối mới lên xe bus 22. Hai cha con định đi về khu phía Đông San Jose kiếm chỗ ngủ để ngày mai Ba còn đi xin việc làm ở mấy cái chợ Á châu gần đó. Lên xe, nó ngờ ngợ vì thấy xe đông hơn hẳn những chuyến bình thường, và ai cũng mang nhiều đồ đạc. Một bà ngồi ở băng ghế trước còn có cả một cái xe đẩy chất túi xách, chăn mền. Hơn hai tiếng sau, xe ghé trạm cuối ở Eastridge Mall, nó thấy phần đông khách trên xe lại xếp hàng chờ chuyến xe đi ngược lại. Lúc đó, hai ba con nó mới hỏi thăm và biết là có ba chiếc xe bus chạy vòng vòng trên tuyến đường này cho tới sáng. Từ ngày đó, hai cha con nó gia nhập Khách Sạn 22.

Đây là tuyến xe duy nhất chạy suốt ngày đêm của quận hạt Santa Clara , cũng là tuyến đông khách nhất và chạy con đường dài nhất. Bắt đầu từ Eastridge Mall ở phía Đông thành phố San Jose xe chạy qua đường Tully, quẹo trái đường King, dọc theo đường Santa Clara qua downtown San Jose, nối qua đường Alameda, lên El Camino Real, chạy qua ba thành phố Santa Clara, Sunnyvale, Mountain View trước khi vào thành phố Palo Alto rồi ghé vô trạm chót.

Bây giờ thì Lisa rành lắm rồi. Nó biết rõ đi một chuyến xe thì phải trả hai đô la. Nhưng hầu hết những người trên Khách Sạn 22 đều dùng vé tháng, mỗi tháng bảy chục đô la. Valley Transportation Authority của quận hạt Santa Clara, mà mọi người gọi là VTA, thỉnh thoảng còn cho những người không nhà hoặc những người sắp mất chỗ ở một tấm vé dùng được trong ba tháng. Mấy tấm vé miễn phí đó cũng hiếm hoi như một chỗ ngủ trong những nhà tạm trú (homeless shelter). Dù sao, chỉ tốn bảy mươi đô la mà có phương tiện đi lại và chỗ ngủ trong cả một tháng dài, đối với cha con nó lúc này, là một sự may mắn và vô cùng quan trọng.

*

Dù đã lang thang không nhà gần năm tháng, Lisa vẫn không nghĩ hai cha con nó là người homeless. Nó thấy chữ “homeless” nghe buồn bã quá, và chỉ hợp với những người chấp nhận là từ nay về sau họ sẽ không có nhà ở nữa. Ba con nó là những người “between homes”, nghĩa là đang kiếm chỗ ở.

Hồi xưa, lúc còn Mẹ, gia đình nó cũng có “home” trong một khu chung cư rất dễ thương, ở gần cái công viên thật rộng. Cuối tuần Ba tập cho nó chạy xe đạp còn Mẹ thì trải khăn trên thảm cỏ xanh rờn và nướng thịt bay mùi thơm phức. Tới giờ thỉnh thoảng nó vẫn còn nằm mơ thấy Mẹ cười thật tươi dưới tàn lá xanh lấp loáng ánh nắng công viên, và khi tỉnh dậy nó gần như chắc chắn là trong mơ nó đã ngửi thấy mùi thịt nướng.

Ngày đầu tiên nó vô lớp Một, Mẹ nó còn dắt nó đi học, còn đứng lấp ló ngó chừng, khi thấy nó không khóc Mẹ mới đi làm. Ngày Giáng Sinh năm đó nó còn vẽ tấm hình có nó, Ba, và Mẹ đánh son đỏ chót thiệt là đẹp. Vậy mà chỉ vài tháng sau Mẹ vô nhà thương. Bữa cô Cindy, em của Ba, hớt hải chạy vô xin cho nó về thăm Mẹ, cô giáo nắm tay nó và nói “Poor baby” (tội nghiệp cưng). Đó là lần đầu tiên nó thấy Ba khóc, nước mắt chảy ròng ròng. Và đó cũng là lần chót Mẹ mở mắt ra nhìn nó.

Sau đó Ba con nó dọn về ở chung với cô Cindy và chú Ben. Những chuyện xảy ra trong vài năm sau khi Mẹ mất, Lisa chỉ nhớ lác đác, tựa như đầu óc nó lạc trong một giấc ngủ dài sau khi Mẹ ra đi. Nhưng những chuyện gì đã nhớ thì nó nhớ rõ, thí dụ như là nó mới vô lớp Bốn thì Ba bị đau lưng. Chú Ben nói tại Ba làm cực, khiêng nặng mà không đeo thắt lưng bảo vệ. Ba bịnh chưa hết thì chú Ben mất việc làm. Ngày chú tìm được việc làm ở xa, hai cô chú và mấy đứa con phải dọn đi. Cô Cindy ôm hôn nó và nói “Con ráng ngoan nha”. Giọng cổ nghẹn ở mũi, nó nghĩ cổ nói vậy để khỏi khóc chứ ở chung mấy năm trời, cổ biết lúc nào nó chẳng ngoan.

Từ đó, hai cha con dọn một qua căn phòng nhỏ xíu. Ba vẫn đau lưng rề rề. Ba thuờng phải nghỉ làm, nằm một mình trong căn phòng đóng cửa tối mờ. Một ngày kia đi học về nó thấy trước nhà dán một phong thư. Đem vô đưa Ba coi, Ba không nói tiếng nào. Mãi đến khi ăn xong bữa tối Ba mới lấy thùng dọn đồ đạc vô và nói mình không có trả tiền nhà tháng rồi, chủ nhà gởi thư bắt dọn đi.

Bữa đầu hai cha con tới Commercial Street Inn ở San Jose . Sau khi đứng chờ ở một hàng dài, tới phiên hai cha con nó, cô thư ký lắc đầu:

– Ở đây là nơi tạm trú của các bà mẹ có con nhỏ.

Ba nó nài nỉ:

– Con tôi cũng nhỏ nhưng mẹ nó chết rồi. Cô làm ơn!

Cô ta vẫn lắc đầu:

– Mỗi phòng có bốn, năm đàn bà, con nít ở chung, làm sao tôi cho ông vô? Mà không có ông, ai chịu trách nhiệm cho con bé?

Thấy cha con nó ngần ngừ, ngơ ngác, không biết đi đâu, cô thư ký thương tình cho nằm đỡ dưới đất ngay trong phòng chờ đêm hôm đó. Hôm sau hai cha con lại dắt nhau đi.

Ba dắt nó vô thư viện coi nhờ Internet và xin tài liệu để đi tìm những shelter (nhà tạm trú) khác. Được bà coi thư viện tốt bụng in ra cho một danh sách các shelter trong quận Santa Clara con Lisa mừng quá. Nhìn thấy tới mười chỗ trong danh sách, nó chắc là cha con nó sẽ tìm được một nơi ở tạm vài tuần. Nhưng coi vậy mà không phải vậy…

Tuần lễ đó, hai cha con nó chỉ được ngủ trong shelter có hai ngày vì ở đâu cũng đầy người, nếu tới sau sáu giờ thì chắc chắn không còn giường trống. Có những shelter chỉ dành riêng cho những người bị bệnh tâm thần, và chỉ có một shelter dành cho gia đình chịu cấp phòng cho cha độc thân và con nhỏ. Có lần nó hỏi tại sao quận Santa Clara có tới hai chỗ cho những người mẹ có con nhỏ mà không có chỗ nào dành cho cha với con nhỏ, cô thư ký suy nghĩ một chút rồi nói:

– Bởi vì hầu hết những người có con nhỏ đến nhờ giúp đỡ đều là đàn bà. Em thông minh lắm, nhưng rất tiếc tôi không giúp được em. Người ta đặt ra những chương trình để phục vụ số đông. Cha con em là trường hợp đặc biệt.

Nó thấy buồn nhưng chỉ nắm tay Ba và trả lời: Vâng, cha của con là người rất đặc biệt.

Chỉ có một câu vậy thôi mà cả hai người lớn, cha nó và cô thư ký, đều chớp mắt như muốn khóc.

Trong mấy tháng cha con nó ngày nào cũng vô thư viện tìm thêm tài liệu về những shelter rồi đi xin khắp nơi. Nhờ đọc nhiều nên nó biết được là cứ mỗi đêm ở trong quận Santa Clara có tới hơn năm ngàn người không nhà cần chỗ ngủ. Mỗi shelter thường chỉ có mấy chục phòng, và có những nơi chỉ mở cửa vào mùa Đông. Hèn gì mà cha con nó thường phải ghi tên chờ tới phiên, có khi cả mấy tuần mới được.

Thời đó, cứ sau bữa ăn trưa là hai cha con lo tìm chỗ ngủ. Đi mấy chuyến xe bus mới tới nơi, người ta hết chỗ, đứng ngẩn ngơ vài phút rồi lại ráng đoán xem chỗ nào còn chỗ, leo lên xe đi tiếp. Rồi đêm xuống, vẫn còn ngoài đường, hai cha con thất thểu dắt nhau kiếm tòa nhà nào có chút mái che và sáng sủa cho đỡ nguy hiểm, rồi ráng quấn chăn cho ấm và ráng ngủ. Có nhiều đêm nó biết Ba sợ cho nó, bắt nó nằm vô sát vách rồi lấy chăn trùm kín mít. Vậy mà khi nó giật mình thức giấc vẫn thấy Ba mở mắt nằm thao thức.

*

Từ khi có Khách Sạn 22 làm nơi trú mỗi đêm, Lisa thấy đời sống của nó khá hơn nhiều.

Lúc đầu nó hơi khó ngủ vì xe cứ chạy rung rung rồi lại thắng ken két. Mỗi lần tới trạm loa phóng thanh còn phát tiếng nhắc nhở làm nó giật mình hoài. Những khi không ngủ được nó ngồi ngắm các hành khách. Lúc đầu khuya còn có những người đi làm ca đêm hoặc đi chơi về trễ. Những người này có vẻ vội vã, họ thường chăm chú bấm lia lịa trên điện thoại di động trong suốt chuyến xe. Qua hai giờ đêm, xe chỉ còn toàn là những người đi xe mà không có chỗ đến như cha con nó. Họ ngồi gật gù trong giấc ngủ chập chờn hoặc nằm co ro trên các băng ghế. Rồi nó cũng từ từ nằm xuống, gối đầu lên chiếc backpack, và thiếp đi.

Sau vài tuần nó đã quen. Nó có thể ngủ say nhưng luôn thức dậy khi xe tới bến chót, rồi lại ngủ tiếp trên chuyến xe ngược lại.

Điều làm Ba nó mừng nhất là trên xe bus an toàn. Về phần nó, nó thích nhất vì Khách Sạn 22 giúp mọi chuyện trở nên đều đặn. Mỗi sáng nó đi xe tới trường học, chiều về đón xe bus tới thư viện ở đường Alum Rock học bài. Tới giờ thư viện đóng cửa thì nó đi bộ qua tiệm Goodwill ngay gần đó. Tiệm này là nơi bán đồ cho người nghèo, những ngày Ba không đi xin việc thì ổng làm không có lương ở đây.

Những người lái xe chuyến 22 đều biết rõ là nhiều người không nhà dùng chiếc xe làm nơi ngủ nhưng họ không làm khó dễ. Chỉ cần những “hành khách đi không bao giờ tới” này tuân theo luật lệ, không ăn uống, hút thuốc, xả rác, hay làm ồn ào trên xe. Ông Tom, một trong những người lái xe, có lần nói:

– Đối với tôi, những người không nhà cũng như mọi hành khách khác. Nếu họ có vé thì họ được đi xe. Thường thường họ đều là người tốt, chỉ đang gặp khó khăn.

Thoát khỏi nổi lo lắng về chỗ ngủ đeo đuổi suốt ngày, Lisa học giỏi hơn trước. Có lẽ nhờ ngày nào cũng học trong thư viện nên năm nay nó đạt nhiều điểm cao nhất. Từ khi khai trường vô lớp Năm, nó thường xuyên được điểm A. Lần đi họp phụ huynh về, Ba nó ôm nó thật chặt rồi nói “Ba thiệt không dám tưởng tượng là con giỏi vậy!”

Bạn bè nó không ai biết là nó không có nhà, có lẽ vì hai cha con nó luôn giữ sạch sẽ, gọn gàng. Ngày nào sau giờ học nó cũng tới một trung tâm sinh hoạt cộng đồng có hồ bơi và phòng tắm cho người đi bơi. Nó hòa vô đám người đó tắm rửa rồi giặt quần áo, vắt khô bỏ vô bịch, sau đó trải một tấm nylon phơi lén ở cái bãi đậu xe đằng sau Goodwill.

Từ hồi tháng Chín, mỗi sáng khi xuống xe ở trạm gần trường, nó đều gặp một cặp vợ chồng với một đứa con trai nhỏ đón xe ở đó. Đứa bé chắc đang học lớp Một, giống như nó thời còn Mẹ. Lần đầu tiên nó nhìn họ từ trên xe bus, bà mẹ đang cúi xuống gài lại áo lạnh cho thằng bé. Không hiểu sao nó thấy cái cử chỉ đó, cái dáng điệu đó, giống in như mẹ nó ngày xưa. Lần đó, sau khi xuống xe, nó chậm bước nhìn họ cho rõ. Từ đó, lần nào gặp họ nó cũng phải nhìn, vừa nhìn vừa thầm mong cái buồn buồn xốn xang trong bụng đừng hiện ra trong con mắt. Có lẽ vì nó nhìn họ hoài, họ cũng nhớ mặt nó. Gần đây, ngày nào hai bên cũng nói Hello chào nhau. Thỉnh thoảng có ngày không gặp họ, nó cảm thấy chút gì như là mong nhớ…

Một đêm cuối tháng Mười, trên Khách Sạn 22 xuất hiện vài khuôn mặt lạ. Họ tự giới thiệu là phóng viên của báo San Jose Mercury News, nghe nói về nơi này và muốn tìm hiểu thêm. Lisa không muốn nhắc đến chuyện không có nhà nên kéo chăn che mặt, làm bộ ngủ. Ba chỉ miễn cưỡng trả lời vài câu hỏi và không đưa tên tuổi gì hết.
*
Lá phong trên hàng cây dọc con đường Alameda đã đổi màu, cửa kính của các nhà hàng đã xuất hiện hình vẽ gà tây bên cạnh những trái bí rợ. Màu cam, màu đỏ của mùa lễ làm Lisa thấy buồn buồn. Cái vui vẻ, ấm áp của người ta làm nó chợt nhớ rằng lâu lắm rồi nó không được nhìn thấy một nồi súp đang bốc khói, trên cái lò cháy đỏ, trong một căn bếp. Nơi mà các gia đình quây quần ăn bữa tối…

…Thứ Bảy, buổi sáng trời nắng ấm. Hai cha con nó xuống xe ở đường Santa Clara rồi đi bộ tới công viên Cesar Chavez. Có một nhóm người đang phát những thức ăn nóng tại đó. Nghe nói có súp đậu, gà nướng, khoai tán, và cả bánh nhân bí đỏ nữa. Những món ăn tuyệt vời, chỉ nghĩ thôi mà đã phát thèm! Nó nắm tay Ba nối đuôi xếp hàng, và háo hức chờ đợi. Chỉ còn năm, bẩy người nữa là tới phiên nó.

Bỗng tim nó thót lại!

Nó vừa nhìn thấy bà-mẹ-của-thằng-bé mà nó gặp hàng ngày đang tươi cười đứng trong đám múc đồ ăn cho đoàn người không nhà. Nó lôi Ba tách khỏi hàng, quay ngoắt đi, vội vàng như chạy trốn. Ba nó vừa rảo bước theo vừa hỏi “Sao vậy? Cái gì vậy? Lisa?” Nó không nói gì, chỉ cắm đầu đi. Qua một khúc quẹo, khi biết chắc là bà ta không thể thấy hai cha con nó, Lisa mới đứng lại. Rồi tự nhiên nó thấy giận. Giận vì mình không có nhà, giận vì mình sợ người ta biết, giận vì mình đã làm Ba mất một bữa ăn ngon. Nó bật khóc nức nở…

– Lisa, con ăn đi!

Tiếng Ba nó nhắc nhở làm nó trở về hiện tại. Nó đang ngồi trong một nhà hàng sang trọng ngay trung tâm thành phố San Jose, đối diện với ông Sam, bà Nancy, và thằng bé Danny (bây giờ nó đã biết tên của họ.) Ánh mắt của bà Nancy thật là vui và ấm áp. Nhưng nó vẫn thấy ngại ngùng, thắc mắc không hiểu tại sao họ cất công mời Ba và nó đi ăn. Không lẽ bà Nancy đã thấy nó bỏ chạy từ đoàn người xếp hàng xin thức ăn hôm nọ, và muốn đền bù cho hai cha con một bữa?

Sáng hôm qua, thứ Sáu, Ba và nó cũng mỉm cười chào gia đình thằng bé như mọi ngày. Bỗng ông Sam tiến tới bắt tay Ba rồi nói:

– Chào ông. Tôi là Sam, đây là vợ tôi, Nancy , và cháu trai Daniel. Chúng ta biết nhau khá lâu rồi, hôm nay tôi muốn được hỏi tên ông và cháu gái.

– Chào ông bà. Tôi là John, con gái tôi là Lisa.

Sau vài câu trao đổi, họ mời cha con nó đi ăn vào ngày mai. Ba nó cũng rất ngạc nhiên, ấp úng từ chối. Nhưng họ thuyết phục mãi, và bây giờ cha con nó đang ngồi đây.

Dù sao những món ăn trên bàn cũng quá hấp dẫn, và vẻ cởi mở, ân cần của hai ông bà cũng không có dấu hiệu gì đáng lo. Lisa bắt đầu cắn vào miếng thịt gà vàng rộm và mỉm cười với thằng bé Danny.
Khi Lisa vét xong muỗng kem tráng miệng cuối cùng, bà Nancy ngồi thẳng lên. Bà nhìn Lisa, rồi nhìn Ba, rồi nói:
– Cách đây hai tuần tôi thấy hình ông và cháu Lisa trên báo San Jose Mercury News.
Lisa nghe máu chạy một cái rần lên mặt. Nó không biết mặt nó đang đỏ bừng hay tái mét. Bên cạnh nó, Ba cũng có vẻ sững sờ. Hai cha con mở to mắt nhìn những người phía bên kia bàn.
Bà Nancy phác một cử chỉ như muốn nắm lấy tay nó. Bà tiếp tục nói, thật dịu dàng:
– Tôi có đưa bài báo đó cho nhà tôi coi. Ổng là giám đốc chương trình của một cơ quan thiện nguyện tên là Dịch Vụ Về Chỗ Ở Vùng Vịnh, và tôi là giáo sư ở trường Đại Học San Jose. Chúng tôi muốn giúp ông và cháu rời khỏi chiếc xe bus 22. Từ đó tới nay, chúng tôi đã gọi cho những người quen biết và tìm được một nơi có thể giúp ông và cháu. Thứ Hai, mời ông tới văn phòng….
*
Bây giờ hai cha con Lisa đã được cấp một căn phòng tại một nơi tạm trú cho các gia đình đang gặp khó khăn. Trong thời gian ở đây, Ba nó được đi học những lớp dạy nghề, và người ta hứa sẽ giúp Ba đi kiếm việc.
Mỗi khi nghĩ lại, Lisa thấy có nhiều việc liên hệ với nhau một cách diệu kỳ. Không biết có phải Mẹ đã đưa đẩy cho nó quen được những người tốt bụng để họ giúp đỡ cha con nó hay không.
Bây giờ ước mơ của nó là khi lớn lên sẽ làm giám đốc chương trình giúp đỡ nhà cửa cho người nghèo, giống như người ân nhân của nó. Khi đó, nó cũng có thể làm điều kỳ diệu cho những đứa bé không nhà khác, những đứa bé mà nó biết là có rất nhiều ở khắp nơi. Nó tin là nó sẽ làm được, chỉ cần ráng học thật giỏi và quyết tâm.
Và Lisa còn học được một điều mới nữa trong thời gian nương náu trên Khách Sạn 22.
Rằng, có những người thật sự có chiếc đũa thần, nhưng khi mới gặp mình không thấy được.
Bởi vì, chiếc đũa đó, họ cất ở trong tim.

Khôi an

……………………………………………………

Ông Mỹ bán thức ăn chay ở Little Saigon
Nguồn:nguoiviet.com-Friday, February 21, 2014

Ngọc Lan/Người Việt

Ông David Dunlap, người Mỹ bán thức ăn chay ở Little Saigon. (Hình: Ngọc Lan/Người Việt)
WESTMINSTER (NV) – Bước chân vào tiệm bán thức ăn chay mang tên Bồ Ðề nằm bên hông Phước Lộc Thọ, gần bãi đậu xe, nhiều thực khách sẽ ngạc nhiên khi thấy có một người Mỹ trắng ngoài 50 tuổi, cao dong dỏng, làm “bồi bàn” ở đây.

Nghĩ ông là “bồi bàn” bởi vì người ta có thể gọi ông lại để nhờ cho thêm cái tô, cái muỗng. Người ta có thể gọi ông lại để “order” món ăn. Và người ta thường thấy nhất là hình ảnh ông khi thì đẩy xe đi dọn bàn, lau bàn, khi thì cầm cây lau sàn nhà. Có lúc người ta lại thấy ông đứng cạnh quầy tính tiền nói chuyện với khách. Rất nhiệt tình, rất niềm nở.

Thế nên hầu như ai cũng ngạc nhiên, ngỡ ngàng khi biết ông không phải người “working for food” – đi làm để kiếm bữa ăn qua ngày, mà ông, David Dunlap, chính là chủ nhân của Bồ Ðề từ hơn một năm qua.

***

Anh Bình Vũ, một trong số những nhân viên của tiệm Bồ Ðề, từng “rất ngạc nhiên” khi nghe tin “có một ông Mỹ mua lại nhà hàng này.”

“Ai cũng ngạc nhiên hết chứ không phải chỉ có mình tôi. Ai cũng hỏi tại sao lại có một ông Mỹ vô đây làm chủ một nhà hàng Châu Á mà lại là nhà hàng chay nữa!” Anh Bình cười nhớ lại.

Chính vì vậy nên thoạt đầu anh Bình cảm thấy “ông này mạo hiểm quá vì ông có am hiểu gì về tập quán người Việt Nam của mình đâu mà lại nhào vô?”

Thế nhưng, sau hơn một năm đổi chủ, anh Bình và những nhân viên ở đây cho rằng “quyết định của David là đúng.”

Theo lời David thì ông “về hưu sớm” được vài năm, sau hơn 30 năm làm việc trong ngành cảnh sát.

“Thấy tôi sang lại nhà hàng chay này nhiều người tưởng tôi là người tu hành. Nhưng không phải. Tôi không phải đạo Phật, tôi cũng không ăn chay. Tôi là một người Mỹ, theo đạo Công Giáo. Nhưng tôi là người cởi mở và biết mở lòng ra với mọi người,” ông nói.

Ông kể đã đến Việt Nam 12 lần, đến Sài Gòn, Hà Nội, Ðà Nẵng, Hội An… nhiều lần. Ông không có những mối quan hệ ruột thịt với người Việt, nhưng ông có nhiều kỷ niệm với họ.

Ông kể rằng 13 năm trước, lần đầu ông đến khu Little Saigon, vào tiệm Lee’s Sandwiches mua ly cà phê sữa đá. Người ta đưa cho ông tờ giấy ghi số “11”. Ông cầm giấy và đứng chờ. Nhưng chờ mãi không thấy tới phiên mình, bởi vì “họ đọc số toàn bằng tiếng Việt, ‘mừ mót,’ mừ mót.’” Ông không hiểu gì hết cho đến khi có người nhìn số giúp ông.

“Tôi biết có người ở đây cả 25 năm nhưng họ không biết tiếng Anh, bởi vì ở đây tất cả đều có thể dùng tiếng Việt, từ đi bác sĩ đến ra ngân hàng, đâu đâu cũng tiếng Việt, rất tiện lợi. Ðó là một nét văn hóa của người Việt nơi đây,” ông nhận xét.

Ông kể, có khi ông cầm tờ giấy liệt kê những món mà đầu bếp yêu cầu ông đi chợ để mua, nào rau, nào tăm, nào đậu… “Khi có món nào không tìm ra được, tôi hỏi nhân viên trong chợ thì ai cũng hỏi tôi rằng ‘ông lấy vợ Việt Nam à?’”

Cũng theo ông David, có lẽ không đâu lại có nhiều người Việt từ khắp nơi đến hội ngộ như tại Little Saigon này.

“Trong cùng một nhóm đến nhà hàng ăn, đều là người Việt mà có người đến từ Washington, Minnesota, Texas, Florida, Ohio, từ Ðức, từ Úc, từ Canada… Tôi nhìn thấy được sự đa dạng trong văn hóa Việt Nam,” ông nhận xét.

 

Bún bò Huế chay, một trong những món được khách hàng thích nhất tại nhà hàng Bồ Ðề. (Hình: Ngọc Lan/Người Việt)
***

Với nhà hàng Bồ Ðề, sau hơn một năm làm chủ, ông David cũng có nhiều chuyện vui ngộ nghĩnh.

Như đã nói, hầu như ai lần đầu đặt chân đến nhà hàng Bồ Ðề, nhìn thấy ông Mỹ trắng, cũng nghĩ ngay ông là người giúp việc tại đây. Và tâm lý của người Việt dường như cũng có điều gì đó hào phóng, rộng rãi đối với người Mỹ (không biết có phải xuất phát từ suy nghĩ đất nước này đã mở rộng vòng tay cưu mang dân tị nạn Việt Nam, nên khi nhìn thấy người Mỹ “làm việc cho người Việt” như thế thì cảm thấy có gì “tội nghiệp”?) Thế nên, ông David kể, một lần, có một nhà sư đến tiệm dùng bữa. Trông thấy ông, nhà sư ngoắc lại theo kiểu Việt Nam “hey, you.” Ông bước tới hỏi: “Ông có cần giúp gì không?” Nhà sư đưa cho ông David $5.

“Có lẽ nhà sư nghĩ tôi vào phụ việc để kiếm bữa ăn trưa nên thương tình cho tôi tiền. Ðến khi nghe những nhân viên trong tiệm nói ‘ông là chủ mới ở đây đó!’ thì nhà sư lấy lại $5, không cho nữa.” Chủ nhân nhà hàng Bồ Ðề cười sảng khoái khi kể lại câu chuyện này.

Không chỉ có nhà sư tốt bụng đó, mà còn nhiều khách hàng khác, có người trông rất sang trọng, lịch sự, cũng “động lòng trắc ẩn” cố nhét thêm vào tay cho “ông bồi bàn người Mỹ” ít tiền. “Tôi từ chối thì họ cứ ra hiệu cho tôi lấy đi, cuối cùng tôi cám ơn và cho tiền vào trong hộp tiền tip của nhân viên,” ông kể tiếp.

Những câu chuyện tương tự khiến ông David cảm thấy vui và thêm yêu thích những người khách nơi đây.

 

Ðến chuyện trò với khách, hỏi các sinh viên này xem có bảng điểm A hay không để được ăn miễn phí, là một trong những nét đáng mến của ông chủ Mỹ tại nhà hàng Bồ Ðề bên cạnh Phước Lộc Thọ. (Hình: Ngọc Lan/Người Việt)
Dĩ nhiên, khách đến tiệm Bồ Ðề và còn muốn quay trở lại là vì sự nhiệt tình, vui vẻ của chủ nhân, của nhân viên, và hơn hết còn vì món ăn ở đây ngon. Nhiều người thích món bún bò Huế, bún riêu, chả giò ở đây, nhưng với tôi thì món bún Thái lại là món ngon tuyệt (có điều ai không thể ăn cay thì nên tránh). Bò bía chay ở đây cũng khó mà chê được.

Thấy trên trang web nổi tiếng Yelp có rất nhiều lời nhận xét tốt về Bồ Ðề, trong đó có khách hàng tên Kenzie K. viết rằng cô vô cùng cảm kích khi thấy ông Mỹ ra giới thiệu với cô từng món ăn khi cô nói cho ông biết đó là lần đầu cô đến nhà hàng chay này.

“Tôi chưa có ăn hết các món trong menu của nhà hàng, nhưng tôi có thử nhiều, thích nhất là bún bò, bún riêu. Lần đầu tiên tôi nhìn đĩa đậu que xào trong menu tôi hết hồn, vì tôi chưa từng nhìn thấy món ăn như vậy bao giờ. Nghe khách hay gọi món gì tôi cũng muốn ăn thử xem nó như thế nào để khi người khác hỏi tôi biết giải thích.” David trả lời câu hỏi “làm sao để có thể giới thiệu món ăn đến cho thực khách?”

Ðến Bồ Ðề, người ta thường thấy ông Mỹ lên tiếng chào khách mới đến, hay hỏi thăm xem thức ăn có ngon không khi họ đến trả tiền. Những lúc không quá bận rộn, ông lại đến chuyện trò với những khách hàng có thể nói tiếng Anh với ông, dù ông cũng đang học nói tiếng Việt để có thể gọi tên một vài món ăn như “bún riêu, bún bò Huế, phở áp chảo” hay đếm số “một, hai, ba, bốn, năm, sáu…” để “có cơ hội tiếp xúc gần hơn với khách hàng hơn,” như ông nói.

Một điều đặc biệt nữa, như anh Bình Vũ nhìn nhận là “chưa có nhà hàng Việt nào thực hiện”, đó là: những em học sinh, sinh viên nào mang đến bảng điểm toàn điểm A đến thì sẽ được ăn miễn phí!

David nói một cách khôi hài, “Tôi đến hỏi thăm và nói cho khách biết nếu các em học sinh có toàn điểm A thì sẽ được ăn miễn phí. Có em hỏi thế thì có 1 điểm B thì sao, tôi bảo thì uống nước lạnh thôi, còn nếu có điểm C thì ra xe ngồi chơi!’”

 

Chả giò chay cũng là một trong những món nên thử qua khi đến nhà hàng Bồ Ðề. (Hình: Ngọc Lan/Người Việt)
***

Là khách hàng đến Bồ Ðề vào mỗi Thứ Tư, ông Chồng Sum Nguyễn, nhà ở tận Victorville, thuộc San Bernardino County, chia sẻ: “Khoảng 5 năm trước tôi có đến đây một lần nhưng mà sau đó thì không đến nữa vì không thích. Hơn nữa khi đó chúng tôi vẫn còn ăn mặn chứ chưa ăn chay trường như bây giờ. Khoảng 1 năm trước đây chúng tôi quay trở lại đây thì thấy có sự thay đổi, sạch sẽ hơn, ông chủ và nhân viên đều rất tử tế, tiệm sạch sẽ hơn.”

Tuy nhiên, có một lý do khiến cho vợ chồng ông Sum chọn nơi đây để trở lại hàng tuần là vì, “có lần vợ chồng tôi kêu cái lẩu nhưng mà cay quá nên bà xã tôi ăn không nổi nhưng đó là do lỗi mình không nói trước chứ không phải lỗi do tiệm. Chúng tôi định mang về, nhưng khi đứng lên trả tiền thì cô dọn bàn nhanh tay quá đổ mất.”

“Ông chủ này nghe thấy chạy đến xin lỗi, rồi mang cái bánh chưng chạy ra tặng nữa, trong khi mình đã de xe chạy rồi.” Ông Sum kể.

Bà Thúy Anh Nguyễn, vợ ông Sum, tiếp lời, “Ông chủ tử tế, thức ăn ở đây ngon mà cũng rẻ nữa nên Thứ Tư nào chúng tôi cũng đến, dù tụi tôi ở tận Victorville, lái xe đến đây cả tiếng rưỡi lận.”

Nếu muốn thử một lần làm quen với thức ăn chay, muốn quan sát, chuyện trò với “ông Mỹ trắng” làm việc ngay trung tâm Little Saigon thì nên “né” các ngày Mùng Một và Rằm, vì nếu không, bạn sẽ phải chờ đó!

–-

Liên lạc tác giả: Ngoclan@nguoi-viet.com

 ……………………………………………………….

Fw.  Bài toán chia bò

Kim Vu to:….,me

Bài toán cổ
Trong truyền thuyết Ấn Độ cổ đại kể câu chuyện: Có một ông già, trước khi lâm chung để lại di chúc rằng, muốn chia 19 con bò cho ba người con theo quy định: con cả được chia 1⁄2tổng số bò, con thứ hai được chia 1⁄4 tổng số bò, còn con thứ ba được chia 1⁄5 tổng số bò nhưng không được bán để chia tiền.

Theo phong tục của Ấn Độ giáo thì bò được coi là vật linh thiêng nên không được giết thịt, chỉ có thể chia cả con đang sống. Sau khi người cha qua đời, ba người con đã tìm hết cách mà vẫn chưa chia được đàn bò, cuối cùng họ quyết định trình quan xét xử. Các quan lại địa phương vốn là túi rượu thịt, gặp việc khó bèn lấy lý do “quan thanh liêm khó quyết đoán việc trong nhà” để từ chối.
Ở làng bên có ông già thông thái.

Một hôm ông đi qua nhà ba anh em nọ, bèn nghe bàn cãi sôi nổi. Hỏi xong ông mới biết nội dung câu chuyện chia bò. Chỉ thấy ông già trầm tư giây lát rồi nói: “Việc này làm được! Ta có một con bò cho các anh mượn. Như vậy tổng cộng có 20 con bò.

Anh cả được chia 1⁄2 tức là 10 con,
anh thứ hai được chia 1⁄4 tức là 5 con,
còn anh thứ ba được chia 1⁄5 tức là 4 con. Ba anh em tổng cộng lại đúng 19 con bò, 1 con còn lại trả cho ta”.

Thật tuyệt diệu! Một vấn đề nan giải đã làm nhiều người suy nghĩ nát óc lại được giải quyết một cách nhẹ nhàng, khéo léo như vậy. Cách chia này tự nhiên trở thành giai thoại và lưu truyền tới ngày nay.
……………………………………………………….

Fwd: Tr: FW: MỜI ĐỌC TRUYỆN NGẮN VUI “VĨNH BIỆT PHÂY-BÚC” CỦA NGUYỄN ĐÔNG THỨC
Kim Vu to:….,me

                     Vĩnh biệt Phây-búc!

Hình minh hoạ – Đỗ Hoàng Tường

Thằng con trai 28 tuổi ế chỏng ế chơ của tôi một hôm bỗng tuyên bố giữa bữa cơm:
– Chủ nhật này con đưa bạn gái con về giới thiệu với ba mẹ được không?
Vợ tôi tròn mắt:
– Con? Có bạn gái?
Thằng khỉ làm bộ mặt nghiêm nghị:
– Mẹ làm gì vậy? Tại con chưa muốn thôi, chứ muốn là… 30 giây! Xếp hàng cả đống!
– Thì con cứ đưa về đi – tôi có ý kiến – Nhà mình thoải mái!
Vợ tôi lườm tôi:
– Thoải mái gì? Không phải ai muốn vô nhà này cũng được đâu! Bạn trước đã! Thấy được rồi mới muốn gì muốn nha!
Thằng con tôi cười hehe:
– Không phải được mà là quá được! Mẹ thấy là chịu liền cho coi! Công dung ngôn hạnh đầy!
– Nó tên gì? Mấy tuổi? Làm gì? – vợ tôi thăm dò.
– Dạ tên Trang, 24 tuổi, làm phòng kế toán cùng công ty với con.
– Vậy là tuổi con ngựa?
– Dạ.
Vợ tôi tính trong 10 giây:
– Dần với Ngọ… Nằm trong “tam hợp”. Cũng hợp với mẹ luôn. Được!
– Em thiệt tình! – tôi nhăn nhó – Giờ này mà cứ mê tín! Thử nó mê đứa nào “tứ hành xung” coi em có cản được không?
– Sao không? – vợ tôi trừng mắt – Không phải vụ tuổi nhưng phải có chuẩn đàng hoàng chứ! Nhà này không có chuyện con đặt đâu cha mẹ ngồi đó đâu!
Con tôi tỉnh bơ:
– Con bảo đảm mẹ thấy là chịu liền mà!
Đến lượt tôi sực nhớ:
– Con nói nó tên Trang?
– Dạ. Sao ba?
– Trời! Ba lo nhứt chuyện này, sao lại dính đúng luôn vậy?
– Gì vậy anh? – vợ tôi hỏi.
Tôi thở dài:
– Thì thằng con mình tên Nghĩa! Tên hai đứa gộp lại…
Con tôi ngoác miệng cười:
– Nghĩa Trang! Hehe! Tụi bạn con chọc rồi! Càng vui! Đích đến cuối cùng của mọi người mà!
Rồi nó nghiêm lại, chốt hạ:
– Vậy trưa chủ nhật nha ba mẹ! Trang sẽ đi chợ rồi tới đây sớm để phụ làm cơm với mẹ…
*
Mới chín giờ sáng chủ nhật, Trang chạy xe máy tới, phía trước vừa treo vừa chất mấy bịch hàng mới mua ở siêu thị. Tiêu chuẩn “công” và “dung” có vẻ đúng. Con nhỏ mặt mày dễ coi, sáng sủa, tướng tá gọn gàng, ăn mặc lịch sự. Đi chợ nhanh nhẹn thế kia, chắc là chuyện thường làm. Nó vui vẻ chào tôi và vợ tôi rồi ào ào xách đồ vào nhà và bất chợt… rú lên:
– Trời! Đẹp quá!
Thì ra đó là cái bình hoa vợ tôi lo đi mua cắm từ sáng sớm để trên bàn ăn để chuẩn bị tiếp khách đặc biệt. Trang móc ngay điện thoại, chụp hình lia lịa, rồi nhí nhoáy bấm tới bấm lui một lúc mới cười khì:
– Xong!
Nó bắt đầu bày biện các thứ vừa mua đầy mặt bàn trong bếp. Vợ tôi mon men tới gần, bị nó mời:
– Bác để con làm đi! Có gì thì anh Nghĩa phụ. Con làm hai món thôi, nhanh lắm! Bún chả giò, xúp mì ngôi sao nấu thịt bằm. Bảo đảm ngon, no!
– Để bác rửa rau cho? – vợ tôi rụt rè.
– Dạ không!
Sau lời tuyên bố chắc nịch, Trang nhào qua rửa rau. Nó vặn một chậu nước đầy, thảy rau vô và cứ vừa xả nước ào ào vừa kỳ cọ từng cọng rau. Tôi biết chắc bà vợ mình đang xót cho cái đồng hồ nước đang quay kim vèo vèo nhưng rất lạ là bà lại im ru, làm như đang bị khớp trước nàng dâu tương lai hậu hiện đại.
– Rửa rau dưới vòi nước đang chảy mới tốt nha bác! – Trang quay qua nói với vợ tôi, rồi mặc cho vòi nước chảy xối xả, nó lại móc điện thoại ra bấm bấm, vừa coi vừa chỉ đạo thằng con tôi làm này làm nọ, điều mà chưa bao giờ thằng khỉ làm cho mẹ.
Vợ tôi len lén đi tới nhìn vô cái điện thoại coi có gì trong đó. Trang cười:
– Con coi lại Gu-gồ chỉ làm chả giò cho chắc bác ơi!
Bữa ăn rồi cũng được dọn ra, bày biện đẹp mắt. Thằng Nghĩa mặt tươi rói xoa tay mời ba mẹ vào bàn. Vợ chồng tôi vừa cầm đũa thì Trang đưa tay cản lại:
– Hai bác chờ con xíu!
Nó lại cầm điện thoại chụp xạch xạch xạch, lại nhoay nhoáy bấm bấm một lúc. Vợ tôi không thể không thắc mắc:
– Con làm gì vậy?
– Dạ con pốt Phây-búc (*).
– Là cái gì?
– Dạ là mạng xã hội đó bác! Vui lắm! Con pốt cho các bạn biết con đang èn-choi trưa nay cho tụi nó thèm chơi. Đó, đó, tụi nó còm lia lịa rồi nè! – Trang đưa điện thoại qua cho Nghĩa coi. Thằng nhỏ vừa đọc vừa cười tủm tỉm.
– Hai bác lớn tuổi nên chơi Phây-búc cho đỡ buồn. Ngồi một chỗ trò chuyện, trao đổi thông tin, hình ảnh khắp thế giới với cùng lúc cả ngàn người bạn. Lại được thoải mái nói tâm trạng của mình, bình luận chuyện người khác, chém gió, chơi games, nghe nhạc, xem phim thoải mái… Cả gia đình, dòng họ ngồi một chỗ vẫn biết hết nhứt cử nhứt động của nhau. Anh Nghĩa! Sao anh không chỉ hai bác chơi Phây-búc vậy? –  Trang cự Nghĩa.
– Sợ ba mẹ nói mất thời giờ! Ba mẹ hay la anh mỗi lần anh thức khuya để chat – Nghĩa nói.
– Trời, vậy mà còn không biết chỉ hai bác chơi! Ba má em cũng cự em, em chỉ xong là mỗi người ôm một cái điện thoại, hết la hehehe! Vui lắm hai bác ơi!
*
Bạn bè tôi cũng chơi Phây-búc lâu nay, có rủ tôi nhưng tôi giấu dốt, làm bộ chê là trò vớ vẩn, mất thì giờ. Sau buổi gặp Trang, thằng Nghĩa bắt đầu hướng dẫn tôi vào cuộc. Từng bước một, tôi dần dần bị cuốn hút vào trò chơi mới. Cũng động chút là chụp hình, pốt, ghi sì-ta-tớt, like, còm… cả ngày. Bạn bè đông dần, trong đó bạn ngoài đời càng ngày càng ít hơn bạn ảo. Các bạn ảo này mới là vui, vì chả quen biết gì, thậm chí cái tên cũng ảo, thí dụ Loài hoa bé dại, Ai thèm nhớ anh, Thiên thần mắc đọa, Cá mập chết đuối… Hầu hết không biết mặt mũi thế nào. Có người đưa con chim, bông hoa, cờ nước… làm ảnh đại diện. Kể cả họ có đưa ảnh chân dung thì cũng không có gì bảo đảm là thật. Bạn ảo thì khỏi úy kỵ, bình luận ào ào, khen chê chửi rủa vung vít. Nói chung dù là một thế giới ảo, Phây-búc đúng là vui ra phết, y lời con dâu tương lai đã nói, tha hồ tán dóc. Tôi còn thấy sở dĩ nó được thiên hạ khoái như điên vì còn là một phương tiện tự sướng vô địch về mặt tinh thần. Từ đó lúc nào tôi cũng kè kè cái điện thoại bên cạnh, đến mức đi ngủ cũng để một bên, thấy rung báo có tin là lại mở ra bấm bấm nhấn nhấn.
Vợ tôi nổi điên:
– Anh cười thằng Nghĩa con Trang rồi bây giờ còn lậm hơn tụi nó! Anh vừa phải thôi nha! Toàn trò chuyện với mấy đứa con gái thôi phải không?
– Con gái đâu mà con gái! – tôi chống chế.
– Hôm nọ anh nằm bấm, tôi nhìn thấy rồi! Toàn hình con gái! Mê quá há! Anh coi chừng tôi, lộn xộn tôi cho anh lên đường ngay tức khắc!
Khi vợ xưng “tôi” là biết có chuyện rồi! Tôi kêu trời:
– Không có đâu em ơi. Bạn ảo thôi, có gặp đâu! Chơi cho vui thôi mà! Em cũng chơi đi cho vui? Bạn của anh cũng là bạn của em – tôi đề nghị.
– Không! Tôi không có rảnh! Mà tưởng tôi ngu hả, mấy người tạo group  riêng, có trời mới biết đang nói gì với nhau!
Tôi sửng sốt nhìn vợ. Sao nàng lại biết cả vụ này nữa trời? Vợ tôi như hiểu cái nhìn ấy, cười:
– Vợ anh không ngu đâu nha! Coi chừng đó! Bạn gái ảo thôi phải không? Nhất định không gặp phải không?
– Đúng rồi! Em tin anh đi! – Tôi nói chắc như bắp.
*
Bất ngờ có một cô gái với gương mặt đẹp như mơ và cái tên cũng quá thơ mộng – Giọt nắng bên thềm – xuất hiện xin làm bạn với tôi, cùng dòng nhắn tin: “Qua bạn bè, em rất thích những lời bình của anh. Xin anh cho em được làm bạn. Có thêm một người bạn tốt, cảm thông, chia sẻ, cuộc sống của mình sẽ nhẹ nhàng hơn”. Trời, hay như vậy làm sao tôi từ chối? Giọt nắng bên thềm tỏ ra là một cô gái rất thông minh, tinh tế, đặc biệt qua những câu chat riêng tỏ ra rất hiểu tôi. Em nói mới 30 nhưng đã một lần dang dở. Em nói mới chơi Phây nên rất ngại việc phơi bày rộng rãi cảm xúc riêng tư. Không hiểu sao em lại tin tôi và rất thích trò chuyện với tôi, nên xin được tạo group riêng hai người. Thấy không hại gì, tôi… nhận lời. Từ đó thỉnh thoảng tôi lại được xem những tâm trạng buồn vui của Giọt nắng , những tấm hình Giọt nắng  thật đẹp trong những bộ quần áo thời trang, kể cả bikini gợi cảm trên bãi biển… Tôi bắt đầu chat thường xuyên với Giọt nắng , điều lạ là em chỉ chat vào ban ngày, lúc tôi đi làm. Em xin lỗi tôi, nói là ban đêm không tiện, sẽ giải thích với tôi sau. Càng ngày em càng tỏ ra có tình cảm với tôi, hôm nào em không lên Phây, tôi cũng thấy thiêu thiếu, nhơ nhớ.
Một hôm bất ngờ em nhắn: “Chắc em không chơi Phây nữa, hoặc sẽ bỏ group của mình và lock anh luôn. Em nghĩ đến anh nhiều quá! Mà anh thì đã có gia đình… Em rất ngại… ”. Tôi hốt hoảng: “Đừng em! Không sao đâu, không có chuyện gì đâu. Mình chỉ là bạn trên Phây thôi mà…”. “Nhưng em cứ nghĩ đến anh và muốn gặp anh. Em không thích chỉ làm bạn ảo của anh. Anh có cho em gặp không? Em muốn mời anh ăn sáng uống cà phê, từ nay mình sẽ trò chuyện ngoài đời thỏa thích với nhau…”.
Bạn nghĩ tôi có thể từ chối lời mời ấy được không?
Và tại quán cà phê Chiều tà thơ mộng, tôi đã gặp Giọt nắng bên thềm. Đó chính là… vợ tôi! Hix! Với sự hướng dẫn tích cực của cô dâu tương lai tuổi Ngọ, nàng đã sử dụng Phây-búc thành thạo và cho tôi một vố nhớ đời…
Vĩnh biệt Phây-búc!

NGUYỄN  ĐÔNG  THỨC

Add a Comment

Your email address will not be published. Required fields are marked *

Web
Analytics