1.Nguyễn Sỹ Tế, người đứng ở ngoài nhóm Sáng Tạo?(Du Tử Lê)2.Thơ Thanh Nam(1931-1985- thica.net)

Nguyễn Sỹ Tế, người đứng ở ngoài nhóm Sáng Tạo?

Du Tử Lê/Người Việt

Nguồn:nguoiviet.com0 February 9, 201

Từ trái, Mai Thảo, Vũ Khắc Khoan, Nguyễn Sỹ Tế, Phạm Đình Chương, Tạ Tỵ. (Hình: Du Tử Lê cung cấp)

Nhà văn Nguyễn Sỹ Tế là một trong hai nhân vật được coi là “lý thuyết gia” của nhóm Sáng Tạo, ngay tự những ngày còn phôi thai, theo nhà văn Mai Thảo. Nhưng ông lại là thành viên ít được biết tới nhất của nhóm này. Ông giống như một người đứng ngoài Sáng Tạo.

Số người có tình thân và theo dõi cận cảnh sinh hoạt của nhóm Sáng Tạo, ngay tự những năm giữa thập niên 1950 ở Sài Gòn cho rằng, khác hơn nhà văn Trần Thanh Hiệp (lý thuyết gia thứ hai của Sáng Tạo), nhà văn Nguyễn Sỹ Tế bản chất khép kín. Ông chọn nếp sống xa khuất tiền trường của những ngọn đèn trực chiếu.

Là một trí thức sớm được biết đến, ngay từ thời điểm trước hiệp định Genève Tháng Bảy, 1954, chia đôi đất nước, ở Hà Nội, di cư vào Nam, nhà văn Nguyễn Sỹ Tế là một thành viên sáng lập tạp chí Sáng Tạo, nhưng ông lại được ghi nhận là người nằm ngoài mẫu số chung của đa số thành viên Sáng Tạo.

Cũng có người cho rằng, vì ngoài tính cách nhà văn, ông còn là một nhà giáo dục kể từ năm 1945 ở Hà Nội, nhà văn, giáo sư Nguyễn Sỹ Tế còn được mời giữ một số chức vụ trong ngành giáo dục cũng như chính quyền ở Sài Gòn, kể từ ngày di cư vào miền Nam; nên ông rất thận trọng, dè dặt trong mọi giao tiếp, sinh hoạt có tính cách ồn ào, sôi nổi, dù cho những lãnh vực ông tham gia, có thể không mâu thuẫn với cung cách sống đã định hình rất sớm của cuộc đời ông.

Trang mang Wikipedia-Mở, ghi nhận rằng, năm 1958, Nguyễn Sỹ Tế làm hiệu trưởng trường Trung Học Tư Thục Trường Sơn (Sài Gòn). Năm 1956-1958, những năm đầu khi trường Luật Sài Gòn chuyển từ chương trình Pháp qua chương trình Việt, ông làm phụ khảo (assistant) môn dân luật và tư pháp quốc tế cho cố Giáo Sư Vũ Văn Mẫu – khoa trưởng trường Luật. Năm 1957-1963, ông dạy môn kịch nghệ tại trường Quốc Gia Âm Nhạc và Kịch Nghệ Sài Gòn.

Từ 1962, ông dạy tại các trường đại học miền Nam: Đại Học Sư Phạm, Đại Học Vạn Hạnh (Sài Gòn), Đại Học Đà Lạt, Đại Học Cần Thơ. Năm 1964, ông làm chánh văn phòng Bộ Ngoại Giao cho Bác Sĩ Phan Huy Quát…

Với một quá khứ như vậy, một số người đã không ngần ngại kết luận, Nguyễn Sỹ Tế là nhà văn của những kín đáo, không phô trương. Cũng chính vì không ra mặt tham gia những sinh hoạt, vận động lớn, nhỏ của Sáng Tạo, nên các thành viên của nhóm này, dù quý trọng ông cách mấy, cũng không có lý do, cơ hội, để nhắc tới ông, như một “niên trưởng” của họ.

Tính khiêm cung của ông còn bộc lộ rõ hơn trong bài “Vũ Khắc Khoan và Tôi,” một người bạn cùng thời với ông. (1)

Ngay câu mở đầu phần thứ hai của bài viết, ông đã nhấn mạnh: “…Đối với tôi, Vũ Khắc Khoan bao giờ cũng là ‘người đi bước trước.’ Trước từ lúc ra đời, đi những bước trên đường đời và cuối cùng từ giã cõi đời. Người sinh năm Tỵ, tôi năm Tuất…”

Dọc theo bài viết của mình, đôi khi ông cũng dùng chữ “người” hoặc hai chữ “tiên sinh” để nói về người bạn cùng thời với mình: “…Mùa Xuân năm 1950, tôi lặn lội từ hậu phương trở về thành (Hà Nội) rồi vào dạy học tại trường Chu Văn An, đã nghe học trò nói người dạy học từ trước, tại trường Nguyễn Trãi…”

Chi tiết hơn, Nguyễn Sỹ Tế kể, hằng ngày, ở Hà Nội, ông đạp xe từ Chợ Hôm lên trường Chu Văn An, Cửa Bắc cũ – trong khi Vũ Khắc Khoan lại đi ngược chiều, từ Quan Thánh xuống Nguyễn Trãi. Hai bên không gặp nhau. Cuộc giao du giữa họ, rất “sơ khoáng” (chữ của Nguyễn Sỹ Tế)…

Thế rồi sau khi hiệp định Genève được ký kết thì Tháng Tám, 1954, không đợi các giáo sư Chu Văn An sẽ được đưa đi di cư theo chương trình của Bộ Giáo Dục thời đó, ông cùng vợ con theo đoàn sinh viên đại học, đáp máy bay vào Nam.

Ông viết: “…Tưởng di cư như tôi là sớm sủa rồi, không ngờ vào Sài Gòn được mấy hôm tôi đã gặp Vũ gia ngồi chễm chệ trên ghế Công Cán Ủy Viên Bộ Thông Tin với Bộ Trưởng Phạm Xuân Thái. Ngoài ra, tiên sinh còn là một cây bút chủ lực của nhật báo Tự Do – cơ quan ngôn luận của người di cư – cùng với mấy cây bút gạo cội: Hiếu Chân, Đinh Hùng, Mặc Thu, Trần Việt Sơn…”

(…)

“Mùa Hè 1958, một số giáo sư đang dạy học tại Chu Văn An trong đó có Vũ Khắc Khoan, Bùi Đình Tấn, Bạch Văn Ngà. Nguyễn Xuân Kỳ (con cụ Chữ) lên tận Bộ Ngoại Giao rủ tôi ra mở trường tư để ‘kiếm thêm.’ Tôi đã nhận lời. Và đó là trường trung học tư thục, đệ nhị cấp Trường Sơn trước ở đường Tự Đức (Đa Kao) sau dọn về đường Lê Văn Duyệt, gần đường Hồng Thập Tự, Vũ Khắc Khoan và tôi trở thành đôi bạn chí thân từ đó…”

Về tình bạn của hai người, ông kể thêm, dư luận giới trí thức Sài Gòn từng đề cập tới chuyện, ông đã đứng ra hòa giải mối bất hòa giữa hai nhóm trí thức là nhóm Quan Điểm của Vũ Khắc Khoan, với các tên tuổi như Nghiêm Xuân Hồng, Mặc Đỗ, Nhuệ Hồng, Vương Văn Quảng, Tạ Văn Nho… và “Nhóm Phi-Nhóm” Sáng Tạo với Mai Thảo, Thanh Tâm Tuyền và Nguyễn Sỹ Tế. (Tác giả bài “Vũ Khắc Khoan và Tôi” khi nhắc tới Sáng Tạo, chỉ ghi tên ba người như trên. Ông cũng nhấn mạnh phần góp công hòa giải hai bên của ông, vốn… nhỏ thôi, không đáng kể).

Tinh thần hay bản chất khiêm cung của nhà văn Nguyễn Sỹ Tế, còn được thể hiện qua việc ông kể lại một câu chuyện có tính cách đùa cợt của dư luận về nhóm Sáng Tạo. Do ông là người ghi nhận, rồi kể cho nhà văn Trần Thanh Hiệp nghe, nên sau đó, ông Hiệp mới thuật lại câu chuyện ấy, trong bài viết “Mai Thảo người kể chuyện bằng văn xuôi.” (2)

Đại ý câu chuyện mà tác giả tập truyện “Chờ Sáng” (3) ghi nhận được là giữa lúc tiếng tăm của tạp chí Sáng Tạo lên tới đỉnh cao nhất, thì dư luận người dân Sài Gòn khi đó đã truyền tai nhau rằng: Nếu ai đó, có dịp ghé thăm “ngôi nhà” Sáng Tạo…, thì sẽ “chỉ thấy bốn năm ông nhà văn, mỗi ông ngồi một xó trước cái bàn thờ tổ sư riêng.” Ngụ ý, mỗi nhà văn trong nhóm Sáng Tạo là một ốc đảo độc lập. Họ tự mãn chính họ (?)

Việc kể lại mẩu chuyện đùa vui trên của nhà văn Nguyễn Sỹ Tế, có người cho rằng, có vẻ như họ Nguyễn không mấy hài lòng trước sự kiện này (?) (Du Tử Lê)

Chú thích:

(1) Sưu tầm của Lê Hoàng Tuấn Kiệt. Nguồn website dutule.com.

(2) Đọc thêm “Trần Thanh Hiệp, lý thuyết gia của nhóm Sáng Tạo,” nhật báo Người Việt, Thứ Bảy, 16 Tháng Mười Hai, 2017).

(3)Tập truyện “Chờ Sáng” của Nguyễn Sỹ Tế xuất bản năm 1962 tại Sài Gòn. Nhưng trước đó cả chục năm, vở kịch “Mưa” của ông đã được xuất bản tại Hà Nội năm 1953 và, kịch “Trắng Chiều” xuất bản năm 1955.

Du Tử Lê

……………………………………………………………………………………

Thơ Thanh Nam-

Nguồn: thica.net

MƯA ĐÊM TRỪ TỊCH

Thanh Nam

Đất khách năm tàn vẫn gió mưa
Ngồi bên ly rượu đón giao thừa
Nhìn qua khung cửa mờ hơi nước
Chợt nhớ mưa phùn đất Bắc xưa

Ôi! cố hương xa nửa địa cầu
Nghìn trùng kỷ niệm vẫn theo nhau
Đâu đây trong khói trầm thơm ngát
Hiện rõ trời xuân một thuở nào

Thấy lại con đường tuổi ấu thơ
Cỏ mềm nhung biếc đón chân tơ
Cành non lộc mới ngang tầm mắt
Trang sách thần tiên bụi chửa mờ

Ta bước tham lam, chân vội vàng
Lượng đời mặc sức tháng năm hoang
Lòng vui nào biết chân khờ dại
Đã chọn cho mình luỵ gió sương

Mê mải theo người nhập cuộc chơi
Lớn khôn cùng với nắng mưa đời
Bao nhiêu mơ ước thời niên thiếu
Mỗi Tết tàn theo xác pháo rơi…

Thảng thốt quay nhìn rụng mấy xuân
Trái tươi nhân thế héo khô dần
Đêm nao thức giấc cùng trăng xế
Thấy lạnh riềm mi giọt lệ thầm

Trong góc hồn đau dĩ vãng buồn
Vẫn còn xanh ngát cõi xuân non
Tưởng như khói pháo chưa mờ nhạt
Trên lối hoa đào trải mộng thơm

Thôi, hãy vào đây tránh gió mưa
Những lòng hoang dại, mộng bơ vơ
Đêm nay ta đốt sầu lưu lạc
Trong khói men nồng hạnh phúc xưa.


Seattle 1983

Xuân Quý Hợi

………………………………………………………………………………….

THƠ XUÂN ĐẤT KHÁCH

Thanh Nam

Tờ lịch đầu năm rớt hững hờ
mới hay năm tháng đã thay mùa
ra đi từ thuở làm ly khách
sầu xứ hai xuân chẳng đợi chờ

Trôi dạt từ Đông sang cõi Bắc
hành trình trơ một gánh ưu tư
quê người nghĩ xót thân lưu lạc
đất lạ đâu ngờ buổi viễn du!

Thức ngủ một mình trong tủi nhục
dặm dài chân mỏi bước bơ vơ
giống như người lính vừa thua trận
nằm giữa sa trường nát gió mưa

Khép mắt cố quên đời chiến sĩ
làm thân cây cỏ gục ven bờ
chợt nghe từ đáy hồn thương tích
vẳng tiếng kèn truy điệu mộng xưa

Ới hỡi quê hương bè bạn cũ
những ai còn ai mất giữa sa mù
mất nhau từ buổi tàn xuân đó
không một tin nhà, một cánh thư!

Biền biệt thời gian mòn mỏi đợi
rối bời tâm sự tuyết đan tơ
một năm người có mười hai tháng
ta trọn năm dài một tháng Tư!

Chấp nhận hai đời trong một kiếp
đành theo giông bão phũ phàng đưa
đầu thai lần nữa trên trần thế
kéo nốt trăm năm kiếp sống nhờ !

Đổi ngược họ tên cha mẹ đặt
tập làm con trẻ nói ngu ngơ
vùi sâu dĩ vãng vào tro bụi
thân phận không bằng đứa mãng phu!

Canh bạc chưa chơi mà hết vốn
cờ còn nước đánh phải đành thua
Muốn rơi nước mắt khi tàn mộng
Nghĩ đắt vô cùng giá Tự Do!

Bằng hữu qua đây dăm bảy kẻ
đứa nuôi cừu hận, đứa phong ba
đứa nằm yên phận vui êm ấm
đứa nhục nhằn lê kiếp sống thừa!

Mây nước có phen còn hội ngộ
thâm tình viễn xứ lại như xa
Xuân này đón tuổi gần năm chục
đối bóng mình ta say với ta

(Seattle 1977)

………………………………………………………………………

.

Add a Comment

Your email address will not be published. Required fields are marked *

Web
Analytics