1.Thầy giáo vô trường nên được vũ trang không?(NND/NV)2.Vũ ‘Nhôm’: ‘Tình báo kim tiền’ và ‘phe cánh chính trị’(PCD/NV)

Thầy giáo vô trường nên được vũ trang không?
Ngô Nhân Dụng – February 27, 2018
Nguồn:nguoiviet.com

Năm 2012, sau cuộc thảm sát 20 học sinh và sáu người lớn trong trường tiểu học Sandy Hook, tại Newtown, Connecticutt, ông Wayne LaPierre, người đứng đầu Hội Súng NRA, nói: “Phương cách duy nhất để ngăn cản một kẻ ác cầm súng là một người tốt cầm súng.”

Lời tuyên bố này không những giản dị, dễ hiểu, mà còn có sức thuyết phục mạnh mẽ đối với những người hay coi “phim cao bồi.” Họ từng chứng kiến những cảnh vào đoạn cuối phim, có hai tay thiện xạ đấu súng, một bên thiện, một bên ác, mà bao giờ kẻ ác cũng phải đền tội, người thiện tất nhiên phải thắng.

Điện ảnh Hollywood đã đưa cao bồi bắn súng lên thành huyền thoại. Hội Súng NRA có thể dùng huyền thoại đó cổ động cho càng nhiều người mua súng càng tốt.

Nhưng sự thật có thể ngăn chặn những vụ tàn sát học sinh như ở Sandy Hook và ở Marjory Stoneman Douglas High School tại Parkland, Florida bằng cách cho các thầy cô giáo được mang súng giấu trong mình, như Tổng Thống Donald Trump đề nghị hay không?

Trong một cuộc họp báo ở Tòa Bạch Ốc, ông Trump nói rằng nếu ông Aaron Feis, huấn luyện viên bóng bầu dục (football coach) ở trường Douglas mà có súng thì ông ta đã có thể cứu được nhiều học sinh, kể cả mạng sống của ông ta. Bởi vì, ông Trump nghĩ, nếu được vũ trang thì ông Feis không chỉ lo lấy thân che chở cho các học sinh, ông có thể rút súng ra giết tên sát thủ, chấm dứt cuộc tàn sát!

Ông Trump đã vẽ ra một cảnh hào hứng giống như trong phim cao bồi. Nhưng đó chỉ là cảnh tưởng tượng.

Thứ nhất, nếu huấn luyện viên Aaron Feis được vũ trang với một khẩu súng từ trước, thì ông ta có mang khẩu súng đó bên mình trong lúc mặc đồ thể thao ra tập với học sinh hay không? Chắc không, và ông Feis sẽ phải chạy tới cái tủ nơi ông cất khẩu súng, mở khóa tủ, rút súng ra, tìm băng đạn, rồi nạp đạn, vân vân. Khi ông quay trở lại để đối đầu với hung thủ, thì nó đã biến mất rồi. Cuộc tàn sát chỉ diễn ra trong sáu phút.

Giả thử ông Feis đeo súng bên mình thì sau khi rút súng ra, ông có địch nổi khẩu súng bán tự động AR-15 của hung thủ, bắn hàng trăm viên đạn trong mấy phút hay không? Các huấn luyện viên bóng rổ, bóng chày, nhu đạo, chạy, nhảy, có nên đeo súng khi ra sân hay vào phòng vận động hướng dẫn học sinh hay không? Họ đem súng bên mình cách nào? Đeo trên vai, trước ngực, hay giấu trong túi quần? Có gì bảo đảm những phát súng ông Feis bắn không bao giờ chạm vô một em trong đám học sinh đang chạy náo loạn hay không? Ngay các cảnh sát viên được huấn luyện dùng súng qua hàng trăm giờ thực tập, cũng chỉ hy vọng bắn trúng 50%, một nửa là bắn lạc ra ngoài.

Tổng Thống Donald Trump không chỉ muốn các huấn luyện viên thể thao trong trường học có súng. Ông muốn càng nhiều nhân viên, thầy giáo, cô giáo, giám thị, lao công được vũ trang càng tốt, để bảo đảm an toàn cho các học sinh. Đây là giấc mơ của Hội Súng NRA, của các nhà sản xuất súng và buôn bán súng. Khi đó, mỗi trường học sẽ là một pháo đài, những tên sát nhân sẽ không dám bén mảng!

Nhưng chính những kẻ sát nhân đó, họ có sợ súng hay không? Năm 2009, có người lính đã tấn công Fort Hood, Texas, giết chết 13 quân nhân đồng đội trong đó, biết trước rằng họ sẽ phản công. Năm 2013, một anh bị bệnh tâm thần 34 tuổi tấn công trại hải quân ở phía Đông Nam thủ đô Washington, giết chết 12 người. Các hung thủ biết trước rằng sẽ bị giết, chúng không có vẻ lo lắng sẽ bị giết; và có khi chính bọn chúng đang đi tìm cái chết “vinh quang!”

Nhiều tiểu bang ở Mỹ, trong đó có Texas, đã chấp thuận cho người ta mang súng vào trong trường, mà không cần phơi bày súng cho người khác thấy. Có 40 tiểu bang vẫn cấm không cho ai mang súng vô trường học, kể cả những nhân viên có sẵn giấy phép mang súng che giấu, trừ một số trường hợp đặc biệt.

Khi thầy giáo được phép mang súng vô trường, sẽ nảy ra nhiều vấn đề thực tế. Trong lúc bình thường, cất súng ở chỗ nào? Súng nạp đạn sẵn hay không? Ngay trong quân trường, các tân binh hoặc sinh viên sĩ quan cũng không được mang súng nạp đạn, chờ tới khi tới sân tập bắn nới được phát đạn.

Khi các thầy, cô giáo, phải viết ra các luật lệ rõ ràng xác định khi nào họ được phép rút súng ra, nếu không thì loạn. Họ cũng phải chịu trách nhiệm nếu có người sử dụng súng của họ vào việc bất hợp pháp. Họ phải bảo đảm súng của họ không bị lạm dụng. Khi cảnh sát đến trường vì một vụ nổ súng, làm sao họ phân biệt được một thầy giáo đang bắn súng khác với hung thủ?

Cho phép thầy cô giáo và nhân viên nhà trường mang súng sẽ gây ra rất nhiều điều rắc rối. Một thứ rắc rối là bảo hiểm. Các công ty bảo hiểm phải xem xét mức rủi ro khi có người đem súng tới gần!

Năm 2012, sau vụ tàn sát ở trường Sandy Hook, tiểu bang Kansas cho phép các học khu được quyền cho các nhân viên và thầy giáo, cô giáo mang súng vô trường. Sau đó, công ty bảo hiểm EMC thông báo cho các học khu theo chính sách đó biết rằng họ sẽ phải ngưng bảo hiểm cho các trường học có súng, kể từ năm 2013. EMC đang bảo hiểm cho 85% các trường học học tại Texas. Công ty này viết: “Mang vũ khí che giấu vào trường sẽ gia tăng mức rủi ro khiến chúng tôi phải bồi thường nhiều hơn. Chúng tôi quyết định sẽ không bán bảo hiểm cho những trường nào cho phép nhân viên mang súng che giấu vào trong trường.”

Sau kinh nghiệm tại Kansas, nhiều học khu khác trong nước Mỹ cũng thấy không thể cho phép thầy, cô giáo mang súng vô trường được. Tại tiểu bang Indiana, một công ty bảo hiểm cũng từ chối các trường có súng. Tại Oregon, công ty bảo hiểm báo tin họ sẽ tăng giá mỗi lần có thêm một nhân viên được phép mang súng vô trong trường. Thế là ý kiến vũ trang thầy cô giáo bị hủy bỏ.

Những người tưởng tượng rằng có thêm súng bên trong sẽ giúp cho các trường học an toàn hơn đã sống trong phim ảnh thời Viễn Tây. Hoặc họ là những dư luận viên phục vụ cho các hãng chế súng, bán súng, hoặc Hội Súng NRA, cơ quan vận động hành lang chính trị cho các nhà buôn này. Các cảnh sát viên cũng không hoan nghênh ý kiến vũ trang trong trường học. Cảnh sát là những người được huấn luyện để dùng súng, bảo vệ an ninh cho dân thường. Họ khó lòng chấp nhận một số thường dân, không được huấn luyện đầy đủ, đứng ra thay thế vai trò của những chuyên gia như cảnh sát, trong khi có thể chỉ làm gia tăng mối rủi ro gây thêm số người bị thương hay chết, như các hãng bảo hiểm lo ngại.

Những người đã chạm chán với súng đạn thì biết súng đạn rủi ro thế nào. Chúa Giê Su dạy: Kẻ nào dùng gươm sẽ chết vì gươm. Ông Donald Trump đã được hoãn dịch ba bốn lần, không phải đi lính trong thời chiến tranh Việt Nam. Ông không có kinh nghiệm nào với súng đạn, với chiến trường, cho nên đã chê Thượng Nghị Sĩ John McCain “không đáng gọi là anh hùng” vì lý do ông McCain đã bị địch quân bắn trúng máy bay, nhảy dù xuống thì bị quân địch bắt. Ông Trump mới tuyên bố rằng nếu ông có mặt ở trường Marjory Stoneman Douglas ngày hôm đó thì ông đã chạy thẳng vô trường ngăn cản tên sát nhân, “dù trong tay tôi không có vũ khí.”

Nếu vậy thì ông Donald Trump quả là một tay anh hùng. Ít nhất, trong trí tưởng tượng của ông. Nhưng ai nghe lời ông nói cũng phải nhận ra rằng ông tổng thống chưa từng được huấn luyện về súng và không có chút kinh nghiệm nào về chiến tranh! (Ngô Nhân Dụng)

……………………………………………………………………………………………….-

Vũ ‘Nhôm’: ‘Tình báo kim tiền’ và ‘phe cánh chính tr

Phạm Chí Dũng

Nguồn:nguoiviet.com

Ông Phan Văn Anh Vũ, tức Vũ Nhôm. (Hình: Báo Giao Thông)

Người dân có thể ít quan tâm và cũng chẳng màng tới công danh địa vị lợi ích, nhưng đối với giới “chính khách tinh hoa” ở Việt Nam, cái kết cục của Vũ “Nhôm” là một bài học phải trả bằng máu cho giới “tình báo kim tiền” và “phe cánh chính trị” ở Việt Nam.

Nhìn lại T4 của 15 năm trước

Đã từ rất lâu, trong giới tình báo công an lẫn quân đội chuyên dùng hoạt động “xã hội hóa” làm bình phong, “quyền lực bóng tối” hay “quyền lực hậu trường” là những khái niệm nằm lòng và rất được ưa thích. Học tập kinh nghiệm từ giới tình báo KGB ở Liên Xô, STASI của Cộng Hòa Dân Chủ Đức và cả CIA của Mỹ, một trong những mục đích không bao giờ công bố của nhiều tình báo viên vừa chính quy vừa “xã hội hóa” ở Việt Nam là sử dụng và phát huy tối đa “quyền lực bóng tối” để chi phối, can thiệp và cả thao túng hoặc chính trường, hoặc thương trường, hoặc cả hai.

Cả hai thứ trên không chỉ là mục đích mà còn là một đặc trưng tâm lý kiêu binh và “tự sướng” của một số tình báo viên: dưới một ít người nhưng trên vạn người.

15 năm trước khi xảy đến vụ Phan Văn Anh Vũ, trong chính trường Việt đã xảy ra một vụ đại án an ninh quốc gia: T4.

Dù chưa bao giờ được đảng hay chính phủ công bố chính thức, nhưng vụ việc này đã được giới cán bộ lão thành đặc biệt quan tâm và đòi hỏi phải bạch hóa. Người ta cũng biết T4 là một bí số cho một nhân viên tình báo tưởng tượng của một cơ quan tình báo Việt Nam cài cắm “trong một cơ quan đặc biệt ở Mỹ,” để từ đó cung cấp các tài liệu tối mật, tuyệt mật về mối quan hệ của một số quan chức cao cấp Việt Nam với “kẻ thù số một,” cụ thể là với CIA. Cũng từ đó, một số nhân viên tình báo “xã hội hóa” dùng tài liệu tình báo giả, kể cả tài liệu chính trị nội bộ giả của “Phủ đặc ủy trung ương tình báo VNCH” để khống chế một số quan chức.

T4 có tác dụng là vừa được thành tích vừa được tiền ngân sách cấp. Cho đến khi vụ này vỡ lở và hàng loạt sĩ quan tình báo phải ra tòa…

Nhưng 15 năm sau vụ T4, chắc chắn Vũ “Nhôm” đã vượt mặt anh chị tình báo đi trước, khi nhân vật này là trường hợp “cả hai” – thao túng cả thương trường lẫn chính trường.

Quả báo chính trị

Hình ảnh viên thượng tá tình báo công an Phan Văn Anh Vũ chỉ tay vào mặt Huỳnh Đức Thơ – chủ tịch thành phố Đà Nẵng – mà hỏi “Có muốn làm nữa hay là nghỉ?” là một biểu trưng chói lọi nhất từ trước đến nay cho vai trò của một tình báo viên “xã hội hóa,” điều mà trước đó hiếm có nhân vật nào trong giới tình báo hay an ninh dám làm hay làm được. Hình ảnh thật tiêu biểu về “chiến tích” ấy khiến Vũ “Nhôm” đã qua mặt nhiều đồng nghiệp và cấp trên của mình để trở thành một thứ tài phiệt chính trị, trở thành nhân vật được đồng nghiệp và giới quan chức cùng kinh doanh xa gần e sợ gọi là “bố già,” tạo được tác động không chỉ mang tính can thiệp mà cả khống chế và thao túng giới quan chức chính trị và giới doanh nhân.

Xét trên phương diện cá nhân, một cách nào đó có thể xem biểu trưng trên là thành công lớn của Vũ “Nhôm” – trên con đường hoàn tất chu kỳ “chủ nghĩa tư bản dã man trong ý thức hệ độc đảng” ở Việt Nam trong vài thập kỷ đầu tiên của thế kỷ 21.

Nhưng điều “đáng tiếc” cho Phan Văn Anh Vũ là viên sỹ quan tình báo “xã hội hóa” này đã không biết điểm dừng trong cái vòng xoáy tiền – quyền – tiền hoặc quyền – tiền – quyền vô độ.

Một thứ bệnh đặc trưng của giới sĩ quan tình báo “xã hội hóa” là say sưa với chuỗi hiệu ứng mà mình tạo ra được nơi “con mồi,” để từ đó dấn sâu vào thế giới ảo tưởng và sau đó là thế giới hoang tưởng về thứ quyền lực mà mình có được, bất chấp những bài học nhãn tiền của một thế giới ngầm mà nguy cơ bị “hy sinh” hay bị thủ tiêu không hề nhỏ.

Nhưng có một điều mà ngay cả những sĩ quan tình báo lão luyện nhất cũng không thể an tâm tuyệt đối về số phận của mình là những biến động khôn lường – xảy ra theo quy luật hoặc chẳng theo quy luật nào – trong chính trường Việt Nam. Đặc biệt là vào những khoảng thời gian mà nội bộ dậy sóng về chuyện “phe cánh chính trị,” tức nói thẳng theo cách dân gian là các phe phái trong nội bộ đảng đấu đá, xung đột lẫn nhau.

Nếu trước khi Nguyễn Tấn Dũng trở thành thủ tướng vào năm 2008, xung đột nội bộ chủ yếu mang đặc trưng quyền lực, thì sau đó có cả hai đặc trưng: vừa quyền lực vừa lợi ích. Chính Nguyễn Tấn Dũng đã trở thành nhân vật tiên phong mở đường cho cuộc chạy đua thôn tính và sát phạt giữa các nhóm lợi ích với nhau, kéo theo cả một bộ phận “sỹ quan tình báo” và “sĩ quan an ninh” tham gia – theo cách gọi rất sính là “cả hệ thống chính trị vào cuộc.”

Cuộc chiến quyền lực Nguyễn Tấn Dũng – Nguyễn Phú Trọng và Nguyễn Phú Trọng với những đối thủ đương thời là những tiêu biểu của “phe cánh chính trị,” chỉ thỏa hiệp nhưng không thỏa mãn và kết cục phải có thắng – thua.

Có vẻ như Vũ “Nhôm” đã lao vào cái hệ thống chính trị ấy một cách quá nhiệt tình và sâu đậm, nhưng lại không thể ngờ được một lúc nào đó chính Vũ sẽ bị “hy sinh.”

Hết dư địa thời gian

Vào quý 4 năm 2016 và song trùng với Hội Nghị Trung Ương 4 về “chống tự diễn biến, tự chuyển hóa,” Nguyễn Phú Trọng đã bắt đầu quan tâm đến vấn đề “cải tổ” Bộ Công An. Đến khoảng đầu năm 2017, có những dấu hiệu cho thấy Nguyễn Phú Trọng đã bắt đầu triển khai chủ trương “tinh gọn bộ máy ngành công an.” Nhiều tổng cục sẽ bị thu hẹp, nhiều nhân sự cao cấp trong Bộ Công An sẽ phải “về vườn” hoặc “ngồi chung ghế” với nhau.

Còn sau vụ bắt cựu ủy viên bộ chính trị Đinh La Thăng vào đầu Tháng Mười Hai, 2017, chủ trương “cải tổ” Bộ Công An đã được chính thức công bố.

Hầu như chắc chắn, Tổng Cục Tình Báo thuộc Bộ Công An – “cái nôi” của cựu Thượng Tá Phan Văn Anh Vũ – sẽ nằm trong số những trọng điểm “thay máu” của ông Trọng. Sẽ có những quan chức công an phải “hy sinh”…

Thế nhưng bất chấp những cố gắng “còn nước còn tát” của ông Nguyễn Phú Trọng, vụ Vũ “Nhôm” là một biểu hiện quá rõ của nạn kiêu binh thời “Vua Lê, Chúa Trịnh” trong lịch sử Việt Nam, đương nhiên trở thành tiền đề không thể rõ hơn dẫn đến tương lai từ phân rã đến ra đi của một chế độ không còn dư địa thời gian trong quy luật lịch sử. (Phạm Chí Dũng)

……………………………………………………………………………………………………

Add a Comment

Your email address will not be published. Required fields are marked *

Web
Analytics