1.Thầy Từ Mẫn và, nhà xuất bản Lá Bối…(DTL)2.‘Lòng trần còn tơ vương khanh tướng’(NL)3.Lần đầu tiên nhạc dân tộc Việt được trình diễn trong Tòa Bạch Ốc(NV)

Thầy Từ Mẫn và, nhà xuất bản Lá Bối …

Du Tử Lê

Nguồn:nguoiviet.com

T

ừ trái: Lê Thị Thấm Vân, thầy Thanh Tuệ, thầy Từ Mẫn. (Hình Phovanblog)

Cuộc đảo chính thành công ngày 1 Tháng Mười Một, năm 1963, đã đem lại cho miền Nam Việt Nam nhiều thay đổi lớn, từ chính trị, tôn giáo, kinh tế, xã hội, quân sự, văn hóa,… Ở lãnh vực văn hóa, ngoài sự xuất hiện nhiều cơ quan ngôn luận tư nhân thì, người ta cũng ghi nhận được sự có mặt của những nhà xuất bản sách, với nhiều khuynh hướng khác nhau…

Số lượng dồi dào nhà xuất bản sách vừa kể, làm cho sinh hoạt văn hóa của miền Nam, ở lãnh vực này trở nên phong phú hơn; như những bức tranh VHNT lung linh màu sắc…

Trong cuộc lên đường ồ ạt mang tính “trăm hoa đua nở” này, có hai nhà xuất bản, điều hành bởi hai tu sĩ Phật Giáo, được dư luận chú ý, ủng hộ. Đó là nhà An Tiêm của thầy Thanh Tuệ và, nhà Lá Bối của thầy Từ Mẫn.

Xuất xứ của hai nhà xuất bản có tiếng này, theo thầy Từ Mẫn, hiện cư ngụ tại miền Nam California, khởi đầu vốn chung một gốc. Ông tóm tắt sự việc đó, như sau:

Đầu năm 1964, thầy Nhất Hạnh cùng một vài thầy khác ở Saigon, nhận được một khoản tiền cúng dường của một nữ Phật tử. Bà vốn là người bạn đời của Bác Sĩ Hiệu. Khi Bác Sĩ Hiệu từ trần, người con trai của họ tốt nghiệp bác sĩ tại Hoa Kỳ, muốn tránh cho bà mẹ cảnh cô độc; đã xin bà bán căn nhà ở khu cư xá Lữ Gia và, khi xuất ngoại để đoàn tụ, người con cũng xin đừng mang theo số tiền bán nhà mà, hãy hiến tặng cho một hay nhiều cơ quan từ thiện nào đấy.

Căn bản ngôi nhà đó một village khang trang, nên số tiền bán được khá lớn. Một trong những thầy nhận được tiền cúng dường của bà Hiệu, có thầy Nhất Hạnh. Số tiền thầy Nhất Hạnh nhận được là 35 ngàn đồng, theo thầy Từ Mẫn, được coi là rất lớn ở thời điểm đó. Người được thầy Nhất Hạnh trao số tiền kể trên để làm xuất bản là thầy Thanh Tuệ.

Thầy Từ Mẫn nhớ lại rằng trước khi giao số tiền có được, cho thầy Thanh Tuệ, trong một cuộc họp giới hạn, thầy Nhất Hạnh nói rằng, với số tiền này, chỉ một buổi ở nhà sách Albert Portail (tiền thân của nhà sách Xuân Thu ở đường Tự Do) thầy chở về một xe taxi sách là hết tiền!

“Thôi, để ta làm gì cho vui. Nhà xuất bản thì được chớ?” Thầy Nhất Hạnh hỏi số người có mặt trong buổi họp. Và nhà xuất bản Lá Bối ra đời từ đó.

Tới bây giờ, dù thời gian đã qua trên nửa thế kỷ rồi, thầy Từ Mẫn vẫn nhớ thầy Nhất Hạnh giải thích rằng, ngày xưa kinh Phật được chép bằng bút sắt trên những chiếc lá to bản, gọi là “lá bối” hay “bối diệp” theo Hán tự. (1)

Trí nhớ của ông cũng cho biết, trong số những tác phẩm đầu tiên, được xuất bản với tên Lá Bối, có cuốn “Đạo Phật Hiện Đại Hóa” Và “Bông Hồng Cài Áo” mà, thầy Nhất Hạnh là tác giả.

“Cả hai tác phẩm ấy đều bán rất chạy, phải tái bản nhiều lần, nhất là cuốn ‘Bông Hồng Cài Áo’. Ông nói.

Là tu sĩ, chịu trách nhiệm số tiền thầy Nhất Hạnh giao cho, thầy Thanh Tuệ vốn là người sống rất đơn giản. Thầy không có một thú vui nào khác hơn mê sách và quảng giao với văn nghệ sĩ.

Thầy Từ Mẫn kết luận:

“Tuy là một tu sĩ, nhưng theo tôi, thầy Thanh Tuệ cũng còn là một nghệ sĩ nữa.”

Ông kể thời trước Tháng Tư, 1975, thầy Thanh Tuệ là khách hàng thường xuyên của nhà sách Xuân Thu, trên đường Catinat, Saigon. Đó là nhà sách gần như duy nhất, nhập cảng rất nhiều sách, báo ngoại quốc. Mỗi khi gặp được một cuốn sách trình bày đẹp, hay, lạ mắt, in trên giấy tốt thì đắt mấy, dù không đọc, thầy Thanh Tuệ cũng mua cho bằng được, đem về nghiên cứu, săm soi… Thầy Thanh Tuệ cũng được mô tả là rất thân thiết, và có thói quen chiều chuộng một số văn nghệ sĩ như nhà thơ, dịch giả Bùi Giáng, nhà văn Phạm Công Thiện,…

Không biết có phải đó là những lý do khiến một năm sau, khi họp lại, báo cáo cho thầy Nhất Hạnh biết tình trạng tài chánh lỗ lã của Lá Bối, khiến thầy Nhất Hạnh phải nhấn mạnh rằng, làm thương mại nếu không có lời thì cũng không nên để thua lỗ, nợ nần như thế…! Nhất là Lá Bối có nhiều đầu sách bán chạy…

Sau buổi kiểm điểm, thầy Nhất Hạnh quyết định giao nhà xuất bản Lá Bối cho thầy Từ Mẫn trách nhiệm.

Thầy Từ Mẫn nhớ lại rằng, ngoài việc tiếp tục xuất bản sách của thầy Nhất Hạnh như cuốn “Nẻo Về Của Ý,” “Tình Người” (trong đó có truyện nổi tiếng “Cửa Tùng Đôi Cánh Gài” mà, năm 1972, thay mặt thầy Nhất Hạnh (lúc đó đang ở Pháp), ông đã đưa truyện này cho nhà văn Nguyễn Đông Ngạc, (2) người thực hiện tuyển tập “Những Truyện Ngắn Hay Nhất của Quê Hương Chúng Ta” – – Với ảnh chân dung 45 tác giả của nhiếp ảnh gia Trần Cao Lĩnh. (3) Bên cạnh đấy, thầy Từ Mẫn vẫn tiếp tục xuất bản tác phẩm một số tác giả quen thuộc như Bùi Giáng, Phạm Công Thiện (với cuốn “Ý Thức Mới Trong Văn Nghệ và Triết Học”), Nguyễn Văn Xuân, Võ Hồng, Phùng Khánh, Hồ Hữu Tường, Xuân Tùng,  v.v…

Thời gian này, năm 1966, cũng là thời gian nhà Lá Bối khởi sự in bộ tiểu thuyết “Chiến Tranh và Hòa Bình” của nhà văn Nga, Lev Tolstoy, bản dịch của dịch giả Nguyễn Hiến Lê. Trước họ Nguyễn, ở miền Bắc, đã có nhiều dịch giả chuyển ngữ bộ sách này sang tiếng Việt; như các ông Hoàng Thiếu Sơn, Trường Xuyên, Cao Xuân Hạo… (4) (Du Tử Lê)

(Kỳ sau tiếp)

Chú thích:

(1) Theo thầy Từ Mẫn thì tại khu Rừng Lá, trên đường từ Saigon, Xuân Lộc đi Phan Thiết trước đây, có rất nhiều cây loại cây có lá to, từng được dùng để chép kinh, tên  là cây cọ…

(2) Cuối thập niên 1980, đầu thập niên 1990, nhà XB Nam Á ở Paris, in lại tuyển tập này; chẳng những không xin phép mà còn tự động thêm 2 tác giả, không có tên trong nguyên bản nữa!

(3) Theo trang mạng Bách Khoa Toàn Thư, Wikipedia thì: Trần Cao Lĩnh sinh năm 1925 tại Nam Định, ông là nhiếp ảnh gia tiền phong của miền Nam, chuyên về ảnh nghệ thuật đen trắng và kỹ thuật phòng tối. Trần Cao Lĩnh đã xuất bản 4 tuyển tập ảnh; nhiều lần thuyết trình và viết bài về kỹ thuật nhiếp ảnh. Ông di cư sang Mỹ năm 1980. Trần cao Lĩnh đã triển lãm và được nhiều giải thưởng quốc tế từ London, Torronto, Paris, đến Montreal, NewYork, Washington… Ông từ trần ngày 29 Tháng Tám năm 1989 tại miền Bắc, tiểu bang California.

(4) Tiểu thuyết “Chiến Tranh và Hòa Bình” được Lev Tolstoy khởi thảo vào năm 1863 và gửi in tại nhà Russki Vestnik từ năm 1865 đến năm 1869 thì hoàn thành, không kể nhiều năm tiếp theo liên tục được chính tác giả sửa chữa trong các lần tái bản. Người ta thống kê được chừng 10 ngàn bản nháp mà  Lev Tolstoy, dùng để sửa chữa tác phẩm của mình. Nhan đề của nguyên tác là “Війна и мір,” trong đó, “Мір” của văn phạm Nga thế kỷ XIX có nghĩa là “dân sự.” Sang đến thập niên 1930 khi chính quyền Soviet quyết định ấn hành tất cả trứ tác của Lev Tolstoy, nhan đề và nội dung đã được sửa lại theo văn phạm cách tân. Những bản in hiện đại bị nhiều học giả chỉ trích là không thể truyền tải nguyên vẹn ý tưởng của tác giả. “Chiến tranh và hòa bình” được liệt vào hàng danh tác các ấn phẩm thuộc trào lưu lãng mạn Nga thế kỷ XIX. (Nguồn Wikipedia-Mở)

……………………………………………………………………………………………..

Lòng trần còn tơ vương khanh tướng

Ngọc Lan/Người Việt –

Sổ Tay Phóng Viên

Nguồn:nguoiviet.com

Nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông thời trong quân ngũ. (Hình: SBTN)

WESTMINSTER, California (NV) – Tôi không là người thuộc thế hệ chiến tranh, tao loạn. Nhưng lại cũng không xa lạ với “Sắc Hoa Màu Nhớ,” với “Phiên Gác Đêm Xuân,” đặc biệt là “Chiều Mưa Biên Giới” của nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông. Lứa chúng tôi, khi vào tuổi mới lớn, đã được nghe các bản nhạc này từ những băng đĩa đầu tiên của Thúy Nga-Paris By Night do ai đó “chuyển lậu” về nước cuối thập niên 80.

Nghe, nhớ, thuộc và day dứt với những nỗi niềm mơ hồ của một thế hệ…

Để rồi, trong những ngày này, lại lần tìm, nghe lại và miệng khe khẽ hát, không phải chỉ tôi, cả những đồng nghiệp xung quanh, những câu hát của người nhạc sĩ – cũng là một người lính – vừa nằm xuống, như một cách tưởng niệm lẫn tri ơn ông.

Và, thêm một lần nữa, sau những bâng khuâng, bồng bềnh trong hình ảnh “Lòng trần còn tơ vương khanh tướng/ thì đường trần mưa bay gió cuốn…” tôi lại cảm thấy quá bất ngờ khi biết rằng tác giả của “Phiên Gác Đêm Xuân” cũng là người viết nên “Đoạn Tuyệt” với những câu tê tái “Nào ai lấy thước đo tấc lòng/ Tình như mây khói trên làn sóng…”

Có quá nhiều người đã nói về sự ra đời của “Chiều Mưa Biên Giới” – một trong những bài hát viết về đời lính hay nhất xưa nay, theo tôi – nhưng trong thời khắc tiễn ông, chắc cũng không quá thừa khi điểm lại đôi dòng về tuyệt tác này.

Trong một bài trả lời phỏng vấn ký giả Trường Kỳ trước đây, nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông từng cho biết ông viết “Chiều Mưa Biên Giới” vào năm 1956, khi đang là trung úy trưởng phòng hành quân của chiến khu Đồng Tháp Mười.

“Lần đó tôi dẫn đầu một nhóm biệt kích bí mật đi điều nghiên chiến trường dọc theo biên giới Miên-Việt và Đồng Tháp Mười. Trên đường về, anh em chúng tôi lâm vào cảnh trời chiều gió lộng, mưa gào như vuốt mặt. Giữa cánh đồng hoang vắng tiêu sơ, lối vào tiền đồn thì xa xôi, thoáng ẩn hiện những nóc tháp canh mờ nhạt ở cuối chân trời. Và từng chập gió buốt kéo về như muối xát vào thịt da. Từ trong cảnh ấy, tận đáy lòng mình đã nghe nẩy lên những cung bậc rung cảm, những trường canh đầu tiên buồn bã cho bài Chiều Mưa Biên Giới anh đi về đâu…”

Lời tự sự của ông về hoàn cảnh ra đời của bài hát đã giúp người nghe cảm nhận rõ hơn những câu chữ xuất hiện trong “Chiều Mưa Biên Giới,” cảm nhận được đến tận cùng sự khắc nghiệt của chiến tranh – không phải là chết chóc, không phải là chia lìa, không bom rơi, súng nổ – mà là nỗi cô đơn, nỗi nhớ thương đến thắt lòng về một chốn nao.

Vốn dĩ những gì chạm đến trái tim thì tự khắc nó lan tỏa. “Chiều Mưa Biên Giới” cũng vậy. Nhất là khi nghệ sĩ Trần Văn Trạch, vào năm 1961, đã thu âm bài hát này trên đài Europe No.1 và Ðài Truyền Hình Pháp. Để từ đó, tiếng vang nơi trời Âu lại dội ngược về quê hương, “khiến chỉ trong vòng ba tháng, nhà xuất bản Tinh Hoa Miền Nam của nhạc sĩ Lê Mộng Bảo, đã bán hết 60,000 bản nhạc lẻ, phá kỷ lục số ấn bản lớn nhất từ xưa, ở thời điểm đó. Âm vang của ca khúc ‘Chiều Mưa Biên Giới’ lại được khuếch tán thêm nữa, khi cũng trong năm 1961, nghệ sĩ Trần Văn Trạch, lần đầu tiên, trình bày ca khúc ấy tại ‘Ðại nhạc hội Trăm Hoa Miền Nam’ với dàn nhạc của Ðài Truyền Hình Pháp, thu “play back.” (Theo Du Tử Lê trong “Nguyễn Văn Ðông và, điểm đứng chông chênh giữa hai đầu tả, hữu”).

Vợ chồng Nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông chụp tại tư gia của ông năm 2014 cùng các ca sĩ Giao Linh, Phương Hồng Quế, Trang Thanh Lan, Phương Hồng Ngọc, Kim Anh , Michael, nhạc sĩ Trần Quốc Bảo (Hình: nhạc sĩ Trần Quốc Bảo cung cấp)

Thế nhưng…

Cuộc đời luôn có chữ “Nhưng” để tránh mọi sự hoàn hảo, khỏi làm Ông Trời nổi cơn ghen tức.

Sức lan tỏa của “thứ cảm xúc” kiểu “Tình anh theo đám mây trôi chiều hoang” hay “Về đâu anh hỡi mưa rơi chiều nay” đã khiến cho Bộ Thông Tin Sài Gòn ra quyết định cấm phổ biến bài hát với lý do: “Nội dung ‘phản chiến!’ Có thể đưa tới sự sa sút tinh thần của những người lính trấn đóng ở những vùng hẻo lánh, núi non, biên giới…”

Quân lệnh như sơn! Nhưng. Lại “Nhưng.” Lòng người như thác lũ, có thể cuốn luôn núi non thành quách. “Chiều Mưa Biên Giới” vẫn sống, bởi, đằng sau nỗi buồn tơi tả của lòng người trong “rừng chiều âm u rét mướt” vẫn còn đó cái ngạo nghễ kiêu hùng của người trai thời loạn, dẫu mang dáng dấp của một… kiếm khách “Lòng trần còn tơ vương khanh tướng/ thì đường trần mưa bay gió cuốn/ Còn nhiều anh ơi…”

Tôi nghĩ, không có được hình ảnh này, “Chiều Mưa Biên Giới” đã không là bài hát mà nhiều người đều có thể cùng bật ra trong lúc này.

Mặc dù, trong “Hồi Ký Nguyễn Văn Đông,” người nhạc sĩ này tự nhận “tôi mang cấp bậc Trung úy khi mới 24 tuổi đời, còn bạch diện thư sinh. Tuy hồn vẫn còn xanh nhưng tâm tình đã nung trong lửa chín ở quân trường,” nhưng bên cạnh những ca khúc chứa đầy hình ảnh người lính nơi tiền đồn, thì ông lại có những bản tình ca rất đời. Và “Đoạn Tuyệt” mà tôi nhắc ở trên chính là một trong những bài hát nằm trong số này.

“Một mai em có đi lấy chồng. /Vòng tay ân ái thay hình bóng. /Xác pháo tươi hồng như trái tim, /Êm ái trao lòng tôi vết thương. /Em biết không em?”

Hình như không có bất kỳ bài báo nào viết về “tình trường” của nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông. Ngay cả khi tôi có dịp nói chuyện với nhạc sĩ Trần Quốc Bảo, chủ nhiệm tập san Thế Giới Nghệ Sĩ, người mà tôi nghĩ cũng khá thân với tác giả “Sắc Hoa Màu Nhớ”, thì anh cũng chỉ nói cho tôi biết rằng, “Chưa bao giờ nghe ai nói gì đến con của thầy. Còn vợ thì chỉ biết cô Nguyệt Thu là người đã chăm sóc thầy trong thời gian thầy đi tù cải tạo và sau khi ra tù, cho đến tận ngày ông qua đời.”

Hoàn toàn là chủ quan, nhưng “Đoạn Tuyệt” của ông, tự dưng khiến tôi nghĩ rằng ông là người chung tình.

“Một mai đôi ngã xa cách rồi. /Người say duyên mới quên thề ước. /Xin chiếc khăn nồng hương cố nhân, /Đôi mắt em màu xanh ái ân để nhớ muôn đời.”

Không một chữ bóng bẩy. Không một câu trau chuốt. Chỉ là những câu từ như mình vẫn thường dùng để nói với nhau hằng ngày đó thôi. Nhưng sao mà nó thấm, nó đau, nó buồn đến tưởng như có giọt nước mắt nào đó âm thầm chảy ra từ trong tim, không lau được. Phải chăng từ cách chọn cung nhạc?

“Nào ai lấy thước đo tấc lòng. /Tình như mây khói trên làn sóng. /Anh sẽ đi tìm trong lãng quên, /Nhưng cố quên lại càng nhớ thêm. /Vì trót yêu rồi.”

Tôi nhớ trong đoạn cuối Hồi Ký của mình, ông có viết “tôi nghiệm rằng những gì có giá trị nghệ thuật, dù bị vùi dập vì sự ganh tỵ hay hiểu lầm, sẽ có ngày được mang trả lại vị trí đích thực của nó. Tôi chỉ tiếc đời người ngắn ngủi mà tôi đã phí phạm quãng thời gian dài 30 năm. Thật lấy làm tiếc!”

Tôi thì lại không thấy tiếc. Bởi, cả quá trình sáng tác, chỉ cần bấy nhiêu câu ca nằm mãi trong lòng người, qua bao năm tháng, là đã xứng đáng cho một đời.

Tiễn biệt ông. Trời Cali cũng “mưa bay gió cuốn”. (Ngọc Lan)

…………………………………………………………………………………………………………..

Lần đầu tiên nhạc dân tộc Việt được trình diễn trong Tòa Bạch Ốc

Trúc Linh/Người Việt
Nguồn:nguoiviet.com-

WESTMINSTER, California (NV) – Hôm 22 Tháng Hai vừa qua, Đoàn Văn Nghệ Dân tộc Hướng Việt ở Seattle, tiểu bang Washington, có buổi trình diễn tại Tòa Bạch Ốc, trong dịp mừng Xuân Mậu Tuất.

Theo ông Đinh Hùng Cường, Chủ tịch Cộng đồng Người Việt Quốc Gia tại vùng Washington DC – Maryland & Virginia, ‘cơ duyên của buổi trình diễn đặc biệt này là từ Tiến Sĩ Nguyễn Lâm Kim Oanh, cố vấn giáo dục ở Tòa Bạch Ốc. Ngoài đoàn văn nghệ Việt Nam, còn có đoàn Nam Hàn.’

Còn Bác Sĩ Hồng Việt Hải, Trưởng Đoàn Văn Nghệ Dân Tộc Hướng Việt, cho hay ‘quan khách trong Tòa Bạch Ốc tới dự buổi trình diễn của đoàn Hướng Việt gồm có ông Jason Chung, Phụ tá Thứ Trưởng Đặc Trách Dân Vụ, Bộ Tài Chính Hoa Kỳ; bà Holly Ham, Giám đốc Điều Hành, Sáng Kiến của Tòa Bạch Ốc về Người Mỹ Gốc Á Châu Thái Bình Dương; ông Matthew Lin, Phụ tá Thứ Trưởng Đặc Trách Y Tế Người Thiểu Số, Bộ Y Tế và Nhân Vụ Hoa Kỳ; bà Elaine Chao, Bộ Trưởng Bộ Giao Thông Hoa Kỳ.

‘Tất cả quan khách tham dự hôm đó đều dành những lời khen ngợi đến đoàn văn nghệ Việt Nam. Bà Holly Ham đến bắt tay các thành viên trong đoàn chúc mừng buổi trình diễn thành công và chụp hình lưu niệm cùng các nghệ sĩ trong đoàn Việt Nam.’ – Bác Sĩ Hồng Việt Hải, kể.

Kể với Người Việt về cảm xúc trong buổi trình diễn này, Bác Sĩ Hồng Việt Hải bày tỏ: ‘Cái cảm giác lần đầu tiên tiếng đàn tranh, đàn bầu, đàn tì bà, trống… của Việt Nam được vang lên Tòa Bạch Ốc, thật là kỳ diệu, thật tự hào. Có 12 nghệ sĩ tham gia buổi biểu diễn, với các bài như Non Nước Hữu Tình, Vui Mùa Lúa, Long Ngâm, Mừng Hội Hoa Bông, Xuân Ca. Long Ngâm là một bài Nhã nhạc thời nhà Nguyễn xa xưa, gợi cho người nghe những khoảnh khắc thời cung hoàng triều Nguyễn.’

Bác Sĩ – Nghệ sĩ Hồng Việt Hải độc tấu đàn tranh ‘Vui Mùa Lúa.’ (Hình: Hướng Việt cung cấp).

Đoàn Văn Nghệ Dân Tộc Hướng Việt do Bác Sĩ Hồng Việt Hải sáng lập vào năm 2001 với mục đích học hỏi, truyền bá, duy trì và phát huy âm nhạc truyền thống Việt Nam. Theo Bác Sĩ Việt Hải, khác với đa số các nghệ sĩ ngày nay khi học âm nhạc truyền thống Việt Nam chỉ chú trọng về kỹ thuật chạy ngón của tay phải và phong cách biểu diễn ảnh hưởng từ nhạc Trung Quốc. Lối học này đơn giản, dễ học, nên được các học sinh ưa chuộng. Tuy nhiên, đây không còn là âm nhạc truyền thống Việt Nam nữa.

Đoàn Văn Nghệ Dân Tộc Hướng Việt chú trọng đến kỹ thuật và bài bản âm nhạc thuần túy của Việt Nam. Các kỹ thuật và bài bản này khó học và đòi hỏi học viên phải chuyên cần tập luyện. Các giáo viên của Hướng Việt đều được đào tạo bởi các giáo sư chuyên về âm nhạc của ba miền ở miền Nam nên kỹ thuật, ngón đàn và bài bản đều sử dụng và truyền bá đúng theo phong cách của âm nhạc cổ truyền Việt Nam. Từ khi thành lập, đoàn thường xuyên lưu diễn, thuyết trình, quảng bá âm nhạc Việt Nam ở Hoa Kỳ cũng như các quốc gia khác trên toàn thế giới như Canada, Pháp, Úc Châu…

Bác Sĩ Hồng Việt Hải cho biết thêm, Đoàn Văn Nghệ Dân Tộc Hướng Việt có trên 30 người, có thời điểm nhiều hơn vì tùy vào lịch học ở trường của các em học sinh, sinh viên. Thành viên nhỏ tuổi nhất là một bé trai 7 tuổi. Các em ban đầu đến với các lớp học đàn tranh, đàn bầu vì tò mò, nhưng sau đó các em yêu thích, học nghiêm túc, rồi đi biểu diễn cùng với các nghệ sĩ trong đoàn.

Bà Holly Ham (áo đỏ, thứ năm từ trái sang) và Bác Sĩ Kim Oanh (bìa phải) chụp hình lưu niệm cùng Hướng Việt. (Hình: Hướng Việt cung cấp)

Đặc biệt trong đoàn có một nghệ sĩ người Nhật tên là Etsuko Ito, chơi rất giỏi đàn bầu, đàn tranh và cả đàn tì bà. Chị Etsuko Ito chọn học tiếng Việt hồi còn học đại học ở Nhật, sau đó sang Việt Nam du học và rất yêu thích nhạc dân tộc Việt. Khi lấy chồng sang Mỹ, nhớ tiếng Việt vì không có người Việt xung quanh để nói chuyện, năm 2007, tình cờ biết Đoàn Văn Nghệ Dân Tộc Hướng Việt nên đến xin học đàn rồi gắn bó cho đến nay.

Ngay sau biểu diễn ở Toà Bạch Ốc, Đoàn Văn Nghệ Dân Tộc Hướng Việt có buổi diễn ở Falls Church, tiểu bang Virginia vào lúc 2 giờ 30 chiều ngày 24 Tháng Hai vừa qua. Buổi biểu diễn này mở cửa tự do, nhằm đáp lại tình cảm của cộng đồng người Việt ở vùng Washington DC dành cho mình.

Theo ông Đinh Hùng Cường, chủ tịch Cộng đồng Người Việt Quốc Gia tại vùng Hoa Thịnh Đốn – Maryland & Virginia, các nhạc công của đoàn Hướng Việt là những người thực sự yêu âm nhạc, yêu quê hương. Họ đi biểu vì tấm lòng và vì muốn mang âm nhạc dân tộc phục vụ cho cộng đồng người Việt. Bên cạnh tài năng âm nhạc, các nhạc công còn tạo được dấu ân riêng qua trang phục. Họ mặc các kiểu trang phục dân tộc, như áo dài khăn đóng, áo tứ thân… màu sắc tươi sáng và thay đổi nhiều lần, rất sinh động.”. (Trúc Linh)

……………………………………………………………………………………………….

Add a Comment

Your email address will not be published. Required fields are marked *

Web
Analytics