1.TQ đang có ý đồ gì ở VN? (RFA)-2.Mùa xuân trên đảo Lý Sơn-3.Chuyện những chiếc cầu tre VN(RFA)

Trung Quốc đang có ý đồ gì ở Việt Nam?
Nguồn: Nam Nguyên, phóng viên RFA-2014-03-14


Công nhân Trung Quốc tham gia thi công Nhà máy Nhiệt điện Hải Phòng giờ tan ca.
Courtesy BHP

Dư luận Việt Nam thể hiện qua báo chí và các diễn đàn trên mạng đang bày tỏ sự quan tâm rất lớn về hiện tượng người Trung Quốc xâm nhập sâu vào nền kinh tế Việt Nam và với cung cách đặc biệt…… khác thường. Câu hỏi đặt ra là phía sau những hành động đó ẩn khuất những mưu toan gì cả về kinh tế lẫn chính trị?

Kinh tế hay chính trị?

Trả lời Nam Nguyên tối 13/3/2014, TS Lê Đăng Doanh chuyên gia kinh tế độc lập từ Hà Nội nhận định:

“Sự lo ngại trong công luận của Việt Nam rất là lớn, tôi cũng không hiểu tại làm sao mà trên lãnh thổ Việt Nam lại có các đơn vị Trung Quốc kinh doanh đóng kín như người dân ở đấy nói lại, như ở Hà Tĩnh công an vào họ cũng không cho vào. Như vậy ở đấy thành ra lãnh địa của Trung Quốc rồi chứ còn gì nữa!

Và nhân kinh nghiệm ở Ukraina làm người ta cũng liên tưởng đến, nếu như ông Putin đã lấy lý do để bảo vệ kiều dân Nga ở Ukraina, thì cũng rất có thể đến một ngày nào đấy Trung Quốc lấy lý do để bảo vệ những công nhân Trung Quốc ở đấy, họ cũng sẽ làm một đòn tương tự thì lúc ấy sẽ ra làm sao?”

    Nếu như ông Putin đã lấy lý do để bảo vệ kiều dân Nga ở Ukraina, thì cũng rất có thể đến một ngày nào đấy TQ lấy lý do để bảo vệ những công nhân Trung Quốc ở đấy, họ cũng sẽ làm một đòn tương tự thì lúc ấy sẽ ra làm sao?
-TS Lê Đăng Doanh

Mô tả thực chất các hoạt động đầu tư của Trung Quốc vào Việt Nam mà dư luận cho là bất thường, có thể tiềm ẩn những toan tính khó hiểu. TS Lê Đăng Doanh phân tích:

“Đầu tư chính thức nước ngoài của Trung Quốc vào Việt Nam thì không lớn nhưng mà Trung Quốc vì nhiều lý do, trong đó có lý do Việt Nam xây nhà máy điện nhưng không có vốn lại vay từ quỹ xuất khẩu của Trung Quốc, cho nên phải chấp nhận nhà thầu Trung Quốc công nghệ Trung Quốc. Thứ hai nữa, Trung Quốc có những cách làm không phù hợp với luật pháp của bất kỳ nước nào là đút lót để mua lại của các doanh nghiệp Việt Nam các mỏ các khoáng sản là cái mà Trung Quốc hiện nay đang rất cần và thứ ba là Trung Quốc cũng mua lại công ty CP là công ty hiện nay chiếm 70% thị trường thức ăn gia súc của Việt Nam. Sự lo ngại của người dân Việt Nam là hiện nay Trung Quốc có những dự án ở Tây Nguyên là vùng địa bàn chiến lược về mặt quân sự cũng như về mặt chiến lược đối với Việt Nam. Ngoài ra Trung Quốc đầu tư vào nhiều dự án, khác với các nước khác Trung Quốc xây một khu riêng và dựng hàng rào lên kín mít và người dân không biết trong đấy họ làm cái gì và đấy là công nhân hay là lính hay là họ định chuẩn bị cái gì đây.”

Bà Phạm Chi Lan, nguyên thành viên Ban Nghiên cứu của Thủ tướng Chính phủ bày tỏ sự đồng tình với  công luận. Theo đó, về mặt kinh tế thì Việt Nam đã lệ thuộc Trung Quốc khá nhiều mặt, nhất là tình trạng nhập siêu nặng nề. Từ trước đến nay có khá nhiều dự án của Trung Quốc vào Việt Nam không qua kênh đầu tư trực tiếp mà qua đấu thầu, trúng thầu EPC cho các nhà máy quan trọng của Việt Nam như điện, cảng biển, hóa chất….Bà Phạm Chi Lan tiếp lời:


Công nhân TQ thuộc tập đoàn điện khí Dong Fang đang thi công tại VN. File photo.

“Thực tế có nhiều doanh nghiệp hoặc cá nhân Trung Quốc vào làm ăn ở Việt Nam theo kiểu không có phép tắc gì cả và gây ra những nhiễu loạn trong xã hội cũng như gây thiệt hại cho người Việt Nam rất nhiều. Như chuyện họ đi nuôi tôm nuôi cá ở vùng biển Khánh Hòa, hoặc đi thuê người dân trồng khoai lang ở Vĩnh Long hoặc là đi thu mua các loại rễ cây, sừng móng trâu bò v..v.. Những câu chuyện gần như là những câu chuyện thường kỳ trên báo chí rồi.

Ngoài ra lượng người Trung Quốc nhập cư bất hợp pháp vào Việt Nam và làm việc ở Việt Nam hiện nay cũng quá nhiều qua các nhà máy các công trình khác nhau. Họ vào Việt Nam không có phép tắc gì cả. Thí dụ báo chí gần đây nói, họ vào một nhà máy điện, chính quyền địa phương yêu cầu phải làm thủ tục để xin visa làm việc, xin phép cho người lao động của Trung Quốc ở đó. Nhưng người ta cứ thản nhiên bỏ mặc tất cả những yêu cầu của chính quyền cứ để người của người ta vào Việt Nam không có phép tắc gì cả. Tất cả những chuyện đó cộng với tất cả những vấn đề về biên giới về biển đảo mà Trung Quốc càng ngày càng lấn và tỏ thái độ ngang ngược hơn thì chắc chắn nó gây mối lo ngại cho người việt Nam. Điều lo ngại của người Việt Nam là hoàn toàn chính đáng và cảnh báo ngay là điều hết sức cần thiết hiện nay.”
Cần có hành động gì?

Đáp câu hỏi của Nam Nguyên là đứng trước những sự báo động cả về kinh tế lẫn chính trị mà công luận quan tâm, người Việt Nam sẽ phải có hành động gì. TS Lê Đăng Doanh phát biểu:

    Rõ ràng bây giờ cần phải có một báo cáo ra Quốc hội về thực trạng các đầu tư của Trung Quốc như thế nào, thực trạng họ làm gì.
-TS Lê Đăng Doanh

“Rõ ràng bây giờ cần phải có một báo cáo ra Quốc hội về thực trạng các đầu tư của Trung Quốc như thế nào, thực trạng họ làm gì, những người nào có phép, những người nào không có phép và nếu như họ vào đây mà họ dựng hàng rào, họ không cho công an vào kiểm soát, chúng ta không biết họ ở trong đó họ xây dựng nhà máy hay họ đào công sự thì đấy là điều hết sức nguy hiểm. Tôi rất mong Quốc hội kỳ này họp sẽ có ý kiến và sẽ yêu cầu Chính phủ báo cáo về những tình hình đó và công bố công khai cho dân biết… Quốc hội sẽ có những quyết định và biện pháp cần thiết để bảo vệ chủ quyền Việt Nam.”

Báo Đất Việt Online ngày 11/3 đưa lên mạng bài “Trung Quốc đầu tư nghìn tỷ vào Nam Định, thêm lo? Theo đó, UBND tỉnh Nam Định vừa cấp chứng nhận đầu tư cho Tập đoàn dệt may Yulun Giang Tô Trung Quốc xây dựng nhà máy sản xuất sợi, dệt, nhuộm với tổng vốn đầu tư 68 triệu USD tương đương 1.400 tỷ đồng tại khu công nghiệp Bảo Minh huyện Vụ Bản. Dự án này có tiến độ thực hiện từ nay đến tháng 6/2016, thời hạn sử dụng đất 46 năm. Tập đoàn Yulun Trung Quốc sẽ xây dựng nhà máy trên diện tích 80.000m2, công suất sản xuất sợi 9.816 tấn/năm; dệt 21,6 triệu mét vải/năm; nhuộm 24 triệu mét/ năm. Ngoài dự án của Yulun, tỉnh Nam Định cũng đang xem xét để trình Chính phủ dự án khu công nghiệp dệt may sử dụng tới 1.000 héc-ta đất tại huyện Nghĩa Hưng. Tờ báo trích một loạt ý kiến chuyên gia quan ngại Trung Quốc đầu tư mạnh, lộ ý đồ kiểm soát thị trường Việt Nam.


Lao động Trung Quốc tại công trình thi công nhà máy xi măng Nghi Sơn. File photo.

Bên cạnh sự xâm nhập nhiều lãnh vực trong nền kinh tế Việt Nam, Trung Quốc được cho là sẽ có làn sóng đầu tư mạnh vào ngành may mặc, một phần nhỏ vào ngành dệt nhuộm. Chiến lược của các nhà đầu tư Trung Quốc vào Việt Nam trong lĩnh vực dệt may là đón đầu cơ hội Việt Nam tham gia Hiệp định thương mại xuyên Thái Bình Dương (TPP) mà bản thân Trung Quốc không tham gia. Theo dự kiến sản phẩm dệt may xuất khẩu vào Mỹ và các nước nội khối TPP sẽ hưởng lãi suất 0% nếu đáp ứng điều kiện gọi là “tính từ sợi yarn forward” hàng may mặc phải được sản xuất từ sợi có xuất xứ các nước thành viên TPP. Trong bối cảnh doanh nghiệp dệt may Việt Nam từ trước đến nay chủ yếu là gia công, phụ thuộc nguyên liệu nhập khẩu từ Trung Quốc, thì họ sẽ rất khó khăn trong cạnh tranh khi hiệp định TPP trở thành hiện thực.

Đáp câu hỏi của chúng tôi về việc ngành dệt may Việt Nam trông chờ nước ngoài đầu tư vào lãnh vực sản xuất bông sợi, dệt nhuộm để có thể đáp ứng điều kiện “tính từ sợi” của TPP, nhưng nay dư luận lại rất lo lắng khi có yếu tố Trung Quốc. Chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan từ Hà Nội nhận định:

“Khi mà Trung Quốc quyết định đầu tư vào ngành dệt ở Việt Nam, tôi cho là một phần nào đó cũng có thể chấp nhận được. Nếu như những nhà máy dệt họ đưa vào thực sự hiện đại, tốt cả về hiệu quả kinh tế cũng như bảo vệ môi trường. Nhưng phía Việt Nam phải có được cơ chế kiểm soát tốt về giá trị của đầu tư như thế nào, trình độ công nghệ như thế nào, lượng nhân công làm việc ở nhà máy là người nào. Còn nếu họ đầu tư theo kiểu một số trường hợp đã diễn ra, họ đưa nhân công của họ vào làm việc tất cả các khâu, kể cả lao động bình thường rất giản đơn không cần kỹ thuật gì cả mà không sử dụng người Việt Nam thì đấy lại là vấn đề khác.

Tôi cho là một mặt là được nhưng mặt khác vào giai đoạn này Việt Nam cũng rất cần tự mình phát triển ngành dệt của mình và có thể tìm kiếm con đường hợp tác đối với các đối tác khác nữa chứ không nhất thiết chỉ có Trung Quốc. Tôi cho là để tránh phụ thuộc lâu dài thì cần tránh phụ thuộc chỉ vào một đối tác cung cấp dệt ở Việt Nam, thí dụ như nhà đầu tư từ Trung Quốc. Nên có một số nhà đầu tư khác nhau từ các nước khác nhau, ví dụ có thể từ Hàn Quốc, Nhật Bản, Hoa Kỳ và các nơi khác để tránh sự phụ thuộc vào nhà đầu tư Trung Quốc. Bởi vì khi vào Việt Nam quá nhiều họ nắm phần khống chế của ngành dệt Việt Nam thì vẫn đưa Việt Nam vào sự lệ thuộc họ.”

Theo các chuyên gia, luật pháp của Việt Nam có thể chưa đầy đủ, nhưng chỉ với những qui định hiện hành, cũng có thể kiểm soát sự lũng đoạn kinh tế xã hội Việt Nam từ phía người Trung Quốc. Có chăng là các cấp chính quyền từ cao xuống thấp đã không thực thi pháp luật một cách đúng mực. Hơn nữa, trong nhiều trường hợp đồng tiền hối lộ đã thể hiện giá trị siêu đẳng của nó.

…………………………..

Mùa Xuân trên đảo Lý Sơn
Nguồn:RFA-Nhóm phóng viên tường trình từ VN-2014-03-13


Bình minh trên biển Lý Sơn.
RFA

 “Bình thường mà được nhất là một người đi biển thu nhập được khoảng 40-50 triệu một tháng. Như đứa bạn em đi biển một tháng về mua được chiếc Exeter luôn đó. Nhưng lỡ bị bắt thì mất hết luôn, về lại vay tiền nhà nước lại đóng lại tàu khác. Như thuyền trưởng Mai Phụng Lưu đó, mấy lần bị Trung Quốc bắt và lấy hết tài sản luôn, biệt danh là con sói biển Lý Sơn.”

Những ai từng đến đảo Lý Sơn, có lẽ khó mà quên được mùi hương của biển mặn quyện với mùi lá hành, lá tỏi non trong gió ngào ngạt thơm, một mùi thơm rất riêng mà chỉ ở đảo Lý Sơn mới có thể có được. Mùa Xuân về, mùi hương của đảo càng thêm nồng nàn, cái cảm giác nồng nàn này chỉ có được đối với những khách phương xa từng theo dõi đời sống khốn khó, đầy sóng gió của người dân Lý Sơn bao nhiêu năm nay. Với người dân Lý Sơn, mùa xuân Giáp Ngọ là một mùa Xuân mà mọi cay đắng đang chờ đón họ.
Mùa bội thu nhưng vẫn thua lỗ

Theo dòng lịch sử, đời sống người Việt trên đảo Lý Sơn bắt đầu từ những năm nửa đầu của thế kỷ 17 bởi những người lính tiền tiêu canh giữ biển đảo đất Việt. Dưới thời nhà Nguyễn, hằng năm có những đoàn binh giong buồm ra khơi, còn gọi là hải đội Hoàng Sa, xuất phát từ Lý Sơn thẳng tiến về Hoàng Sa để giữ đảo quê hương. Và đã có nhiều đoàn binh ra đi vĩnh viễn không bao giờ trở lại.

Con cháu của những binh sĩ trên các hải đội này sống ở Lý Sơn để chờ đợi họ quay về, nhưng chờ mãi từ thế hệ này sang thế hệ khác, sinh con đẻ cháu mà các chiến binh vẫn bặt vô âm tín. Tưởng nhớ những người thân, tổ tiên ra đi không bao giờ trở lại, người dân Lý Sơn dùng đất sét nặn ra những hình nhân, làm lễ cúng vái và chôn xuống bờ biển, đắp thành những mộ gió mà họ tin rằng linh hồn của cha ông sẽ nương náu vào mộ gió để nhận hương khói và sự biết ơn của con cháu.

Từ bao đời nay, cứ mỗi dịp Xuân về, người dân Lý Sơn lại rủ nhau làm lễ cúng bái, khói hương những ngôi mộ gió để tưởng nhớ công lao cha ông đã ngã xuống bảo vệ biển đảo. Về sau này, có thêm những ngôi mộ gió của người thân đắp cho những người đánh cá ngoài khơi bị bão biển, bị tàu của kẻ xâm lăng đâm chìm. Những ngôi mộ gió càng ngày càng nhiều hơn, sự mất mát người thân càng trở nên quen thuộc đối với cư dân Lý Sơn.


Ngư dân Lý Sơn chuẩn bị hành lý cho những ngày ra khơi. RFA PHOTO.

Thuyền trưởng Lê Tân, người Lý Sơn kể về những chuyến đi biển, bị Trung Quốc bắt người, cướp bóc tài sản của ông: “Nói sao giờ, giờ chạy thôi chứ sao. Kinh, tui kinh quá, nó bắt nó đánh. Khu Đá Bạc nó kinh lắm, nó bắt lên trước hết nó đánh cái đã. Tui kinh bao nhiêu đó thôi. Tui không nộp nhưng sau mấy chuyến đó, thôi tui nộp, rồi bước lên thôi.”

Theo một thuyền viên khác yêu cầu giấu tên, kể từ tết Giáp Ngọ đến nay, có nhiều chuyến đánh cá của ngư dân Lý Sơn thành  công nhưng lại thất bại. Thành công là được nhiều cá, thậm chí có người bị chìm tàu vì trúng mẻ lưới quá nặng. Thế nhưng tính ra, khoảng tiền lãi lại không bằng trước đây.

Giải thích cho vấn đề vừa nêu, ông này cho biết thêm là hiện tại, vì quá cô đơn giữa biển, không có mạng lưới an ninh bảo vệ cho ngư dân Việt Nam, mỗi khi bị bắt tàu chỉ có hai đường, một là bị đánh tả tơi, bị bắt nhốt, bị cướp sạch tài sản, hai là sống mái và bỏ mạng dưới họng súng người Trung Quốc. Chính vì gặp quá nhiều khó khăn, nhiều ngư dân đã âm thầm mua vé thông hành của nhà cầm quyền Trung Quốc để yên thân.

Ông này nói rằng việc mua giấy thông hành sẽ giúp ngư dân Lý Sơn an toàn trong lúc đánh bắt, và đây cũng là bài học an toàn cho bản thân mà ngư dân Lý Sơn đã học được của ngư dân Quảng Nam. Vẫn biết rằng mua vé thông hành của nhà nước Cộng sản Trung Quốc là không tốt, không thể hiện tinh thần độc lập, chủ quyền của một công dân nước Việt, nhưng ngư dân không còn lựa chọn nào khác.

Giải thích thêm, người đàn ông này nói rằng mọi chính sách hỗ trợ của chính phủ đối với ngư dân Lý Sơn rất tốt, mọi ưu tiên từ vay vốn lãi suất rất thấp cho đến hỗ trợ vốn không hoàn lại đều có. Thế nhưng mọi ưu tiên này chỉ đủ để kích thích cho ngư dân ra khơi, vấn đề còn lại, đó là sự an toàn mạng sống giữa biển khơi, hầu như hoàn toàn không có.

Thử hỏi, vay vốn, đóng tàu, tốn biết bao mồ hôi, công phu để rồi ra khơi, vừa đánh bạc với sóng gió lại vừa thí xác cho tàu hải giám Trung Quốc, đến khi mất trắng quay về đầy thương tích, nợ nần… Ngư dân không được gì cả ngoài sự mất mát và làm những cái cọc tiền tiêu sống cho Trung Quốc bắt, để có cái cớ mà nhà nước lên đài phản đối suông vài ba câu lặp đi lặp lại.
Bài toán khó


Ruộng tỏi trên đảo Lý Sơn. RFA PHOTO.

Một ngư dân khác, cũng yêu cầu giấu tên, bộc bạch với chúng tôi rằng hiện tại, ngư dân Lý Sơn đang rơi vào hoàn cảnh thật sự khổ tâm vì phải đối diện một bài toán khó, đó là gia đình, sự sống hay tính dân tộc hình thức. Ông này nói rằng ông đưa ra bài toán này là hoàn toàn có cơ sở của nó.

Vì đã nhiều năm nay, ngư dân Lý Sơn khi ra khơi chỉ gặp đúng một tình trạng khi bị Trung Quốc bắt là mất trắng mọi thứ, sau đó về đất liền, lại chạy vay chạy mướn để đóng tàu, để gở vốn. Không ít ngư dân rơi vào nợ nần, mất trắng vì tình trạng này. Mặc dù người Lý Sơn vẫn biết, vẫn hiểu rằng mình phải nối gót cha ông để bảo vệ biên cương, biển đảo. Thế nhưng lấy gì để bảo vệ ngoài hai bàn tay trắng bốn bàn tay không?

Làm sao dám nói là quyết tâm bảo vệ đất nước khi trong tay không có thứ vũ khí nào mà phải đối diện với những kẻ ngoại xâm trang bị vũ khí tối tân? Làm sao mà giữ vững khí tiết yêu nước trong khi nhà nước, kẻ có trách nhiệm trọng yếu bảo vệ tổ quốc lại phản đối suông khi bà con ngư dân bị bắt và chính ngư dân lại đứng mũi chịu sào mọi khó khăn chỉ vì chén cơm manh áo? Chính vì thế, ngư dân chỉ còn giải quyết một câu hỏi duy nhất: Sống để nuôi vợ con hay là chết?

Cuối cùng, ngư dân buộc lòng phải mua tấm vé thông hành để đảm bảo mạng sống, để có cái mà nuôi vợ con và để duy trì sự sống, duy trì ước mơ nối gót cha ông bảo vệ biên cương tổ quốc. Bởi hiện tại, nếu không có vé thông hành, ra khơi, không bị mất mạng thì cũng bị mất trắng tài sản, lấy gì nuôi con, lấy ai mà ước mơ độc lập dân tộc, độc lập biển đảo.

Nói thì nghe hơi buồn, ngư dân Lý Sơn đã thỏa hiệp với tấm vé thông hành. Nhưng nghe kĩ những suy tư của họ, mới hiểu rằng sự sống đáng quí biết nhường nào, và trong một điều kiện mà mạng sống không đảm bảo, thậm chí bị lợi dụng để làm con tốt chính trị, tốt nhất phải bảo vệ mạng sống và tiếp tục đấu tranh chống ngoại xâm bằng cách khác để thoát khỏi tình trạng nướng mạng trên bàn cờ của kẻ giả dối!

Nhóm phóng viên tường trình từ Việt Nam.

…………………………………………………………………

Chuyện những chiếc cầu xứ Việt
Nguồn:RFA-Nhóm phóng viên tường trình từ VN-2014-03-07


Chiếc cầu tre và chòi trực cầu để thu phí
RFA photo

 Tuần qua, chuyện chiếc cầu treo Chu Va ở Lai Châu bị đứt cáp, hất những người đi đưa tang cùng cỗ quan tài rơi xuống suối đá làm ít nhất 8 người mất mạng và hơn 30 người bị thương một lần nữa đã làm dư luận xôn xao, chấn động bởi chất lượng cầu ở Việt Nam. Đó là chưa kể đến hàng trăm chiếc cầu nằm chông chênh qua suối bằng vài thanh cây, vài sợi dây thừng và một số cáp treo dã chiến có đến hàng chục học sinh bu bám lên để qua sông. Cũng là những chiếc cầu, nếu như ở miền Nam có cầu khỉ, thì miền Trung có cầu tre vắt qua sông. Chuyện của những chiếc cầu tre cũng li kì và thú vị không kém!

Cầu tre lắc lẻo…

Cây cầu tre được sinh ra trong một bối cảnh cũng khá lạ, thường thì những nơi có cầu tre là những nơi heo hút, dân cư đông đúc nhưng đường sá teo tóp, nhỏ nhoi, lại bị con sông chắn ngang đường đi, mùa nắng băng sông bằng đò, đến mùa mưa thì việc đi lại hết sức đáng sợ bởi nguy cơ lật đò, chết người. Bởi việc đi lại quá khó khăn, người dân tự góp vốn làm cầu tre hoặc một nhà đầu tư đứng ra làm cầu tre và bán vé qua cầu cho người đi lại.

Hiện tại, những chiếc cầu tre từ vốn đầu tư của tư nhân chiếm khá nhiều tại miền Trung, góp phần không nhỏ cho việc giao thương nhưng vẫn mang tính hai mặt của nó.

Một người tên Phi, chủ của một chiếc cầu tre được đầu tư với giá 60 triệu đồng, băng qua sông Trường Giang tại Duy Xuyên, Quảng Nam, chia sẻ: “Thường thì khoảng 60 chục triệu, tùy vào cái cầu, sông nó rộng thì khoảng 50-60 triệu, hẹp thì khoảng 10 triệu, nhưng 10 triệu thì lại không lấy được vốn, vì sông nó hẹp thì người ta lội bộ, mùa hè nó cạn, người ta lội qua. Chủ yếu là những cái sông phải rộng, sông rộng làm cầu tre thì nguy hiểm thật, nhưng không có cầu thì phải làm sao, nên phải làm cầu. Từ chỗ nộp tiền thuế cho nhà nước, tiền đấu giá, tiền đầu tư làm cầu, tiền thuê người giữ cầu, có người giữ cầu thì đỡ nguy hiểm cây cầu của mình, người ta điều tiết giùm mình, chứ nếu không ba xe, bốn xe vào một lần thì sập cầu, rồi họ lại thu tiền lại cho mình, bán vé mà, phải thế thôi. Trước đây cũng có người bỏ tiền ra làm cầu, gọi là làm cầu giúp dân, nhưng bây giờ nó đua nhau nó đấu giá rồi thì phải làm kinh tế thôi!”

    Trước đây cũng có người bỏ tiền ra làm cầu, gọi là làm cầu giúp dân, nhưng bây giờ nó đua nhau nó đấu giá rồi thì phải làm kinh tế thôi!
O6ng Phi, Quảng Nam

Ông Phi nói thêm, nếu như trước đây, việc đầu tư làm cầu tre ít tốn kém, và mức thu phí cũng thấp, chỉ lấy 500 đồng đối với người đi bộ và 1 ngàn đồng đối với người đi xe máy thì bây giờ mọi chuyện đã hoàn toàn khác, giá ước đã tăng gấp bốn lần vì nhiều lý do.

Trong nhiều lý do như chi phí làm cầu tăng, đồng tiền mất giá, thời giá nhảy vọt… Thì có một lý do rất cơ bản mà ai cũng có thể thông cảm mặc dù nghe ra rất buồn cười. Đó là chính sách đấu giá làm cầu và thu thuế cầu ở cấp chính quyền địa phương. Nghĩa là trước đây, người làm cầu tre không phải đóng thuế, còn bây giờ, người làm cầu tre phải đóng thuế, thậm chí phải đấu giá để làm cầu và thu lợi nhuận.

Một người yêu cầu giấu tên, sống ở huyện Duy Xuyên, Quảng Nam chia sẻ, chuyện tổ chức đấu giá và đóng thuế làm cầu tre là hết sức vô lý, bởi vì dù sao chăng nữa, việc làm một chiếc cầu tre lắc lẻo qua sông để người dân đi lại cũng là việc làm mà nhà cầm quyền cần phải nhìn ra sự thiếu sót cũng như sự bất lực của mình. Lẽ ra nhà cầm quyền địa phương phải trích tiền thuế, trích ngân sách để làm những chiếc cầu cho dân đi miễn phí hoặc góp phần với tư nhân để làm cầu nhằm giảm bớt khoản thu phí xuống còn một nửa. Đằng này, nhà cầm quyền địa phương lại đè người làm cầu ra đánh thuế, bắt nộp tiền cọc để đấu giá, người nào đấu giá nộp thuế cho nhà nước với mức cao sẽ thắng thầu. Nhưng, một khi có đấu thầu, sẽ có yếu tố kinh doanh và động cơ lợi nhuận sẽ đặt lên trên hết. Điều này xãy ra hai vấn đề bất lợi cho nhân dân.

Bất lợi đầu tiên phải nói đến là sẽ có nhiều người không có tâm huyết với những chiếc cầu tre nhưng lại vì động cơ lợi nhuận, sẵn sàng bỏ ra khoản tiền lớn để thắng thầu, sau đó tha hồ bóc lột người qua cầu dưới sự bảo kê của nhà cầm quyền. Và trong trường hợp này, người vì động cơ lợi nhuận chưa chắc đã nắm đủ kĩ thuật để làm cầu tre băng sông, chất lượng cầu sẽ rất kém và nguy cơ cầu sập bất kì giờ nào là có thật.

Trường hợp thứ hai, vì không tâm huyết nhưng cuốn theo động cơ lợi nhuận, họ sẽ đóng thuế rất cao để thắng thầu, lúc đó, mọi yêu cầu về an toàn của nhân dân không được đặt ra nhưng nhân dân phải gánh chịu khoản phí qua cầu rất cao. Ví dụ như thay vì đóng một ngàn đồng để qua cầu, người dân phải đóng đến năm ngàn đồng, bởi chi phí này cõng cả tiền nuôi nhà cầm quyền, tiền nuôi người làm cầu và một số khoản nhậu nhẹt, bôi trơn chiếc cầu trước quyền thế địa phương.

Cầu tre đến bao giờ?

Những thanh tre làm sàn cầu. RFA photo

Đây là câu hỏi mới nghe tưởng nói chơi nhưng thực tế lại chứa quá nhiều trăn trở của nhân dân những vùng hẻo lánh, đi lại bằng đò hoặc cầu tre. Thường, mùa nắng thì phương tiện cầu tre giúp người ta đi lại thuận tiện nhất, chỉ có những ai quá tiết kiệm hoặc thấy quá tốn kém mới dùng ghe bơi qua sông. Nhưng đến mùa mưa, cả đò và cầu tre là hai phương tiện nguy hiểm ngặt nghèo.

Nếu đi đò thì có thể bị nước lũ cuốn bất kỳ giờ nào, còn việc băng qua chiếc cầu tre chóng vánh giữa dòng nước cuồn cuộn chảy cũng đáng sợ không kém. Bà Nguyên, cư dân xã Duy Vinh, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam, than thở với chúng tôi rằng không có gì đáng sợ và làm bà hãi hùng hơn kinh nghiệm một lần suýt chết khi đi qua cầu tre ở quê bà.

Với kết cấu gồm vài chục gốc tre già đóng chéo xuống sông, sau đó buộc hai cây tre to vào hai bên thành đường ray và đặt lên trên đường ray những mảng tre chẻ đôi, đóng đinh, buộc dây thép thật chặt cho tất cả những thanh tre liên kết với nhau thành chiếc cầu. Qui trình hết sức đơn giản và tải trọng của cầu không được phép quá 500kg.

Một người yêu cầu giấu tên, sống ở huyện Duy Xuyên, Quảng Nam, chia sẻ: “Thì đóng cọc xuống, đóng chéo qua chứ sao, chéo như dấu nhân vậy đó, rải dài rồi người ta cọc, cột mấy cái róng tre dài dưới chân và phía trên rồi xong chứ có gì đâu!”

Chính vì thế, khi có hai chiếc xe máy ở hai đầu cầu chạy ngược chiều nhau và giáp nhau giữa cầu, lúc này chiếc cầu rung lắc cứ như chuẩn bị đổ ập xuống sông. Trong tình trạng mùa mưa lũ thì miễn bàn, cảm giác cây cầu nổi dần lên theo mực nước là cảm giác thật vì với những cây tre cắm xuống lòng sông không bao giờ đủ sức neo cây cầu đừng nổi theo mực nước lũ.

Lần bà Nguyên suýt chết là trận lũ năm 2010, vì phải đi mua lương thực dự trữ cho mấy ngày lũ, nên mặc dù nước đang dâng cao, bà vẫn liều mình đi mua, khi về thì nước đã dâng cao quá mức. Bà vịn vào thành cầu lội băng qua sông, đến giữa sông, cây cầu bị nước chảy giật lắc qua lắc lại liên tục, bà cắn răng ôm thùng thực phẩm lội đến đầu bên kia, vừa chạm chân vào bờ, thò tay quơ vội, nắm lấy cây ổi thì cây cầu bị nước cuốn phăng. Bà chỉ biết rùng mình nhìn theo.

Có thể nói kinh nghiệm đáng sợ của bà Nguyên cũng là kinh nghiệm chung cho những cư dân sống ở vùng sông nước heo hút, quanh năm suốt tháng phải băng sông, băng suối trên những chiếc cầu mà khi đi trên đó, cảm giác của một người làm xiếc pha lẫn với cảm giác đối diện tử thần, thân phận cái kiến, con sâu luôn hiện hữu. Đến bao giờ người dân nơi đây mới có những chiếc cầu đúng nghĩa?

Nhóm phóng viên tường trình từ Việt Nam.

Add a Comment

Your email address will not be published. Required fields are marked *

Web
Analytics