13/04: Bài 13. QUY Y TAM BẢO – Bài 14. CỐT TỦY ĐẠO PHẬT

13/04: 13. QUY Y TAM BẢO – 14. CỐT TỦY ĐẠO PHẬT
Category: Phật Học – Phật học ôn tập-
Posted by: Tbl Đọc: 4496 lần

13. QUY Y TAM BẢO – 14. CỐT TỦY ĐẠO PHẬT

Hoằng Hữu Nguyễn Văn Phú

Bài 13. Quy y Tam Bảo

1. Tam Bảo là ba thứ quý báu, sách còn gọi là Ba ngôi báu, đó là Phật bảo, Pháp bảo và Tăng bảo. Nói rõ hơn, đó là đức Phật Thích Ca Mâu Ni, Giáo pháp của ngài và đoàn thể Tăng-già.

Chữ Phật có nghĩa là đấng giác ngộ. Thái tử Tất-Đạt-Đa từ bỏ phú quý vinh hoa, cung vàng điện ngọc, tìm đường tu hành, để rồi giác ngộ thành Phật, đó là đức Phật Thích-Ca Mâu-Ni. Ngài đã ra khỏi vòng luân hồi; ngài đem những điều giác ngộ của mình dạy lại cho mọi người biết đường lối mà tu hành, ngõ hầu được giải thoát khỏi mọi khổ đau của thế gian này, trong số đó khổ đau lớn nhất là sinh tử luân hồi. Bao nhiêu ngàn năm mới có một vị Phật, cho nên Phật là một ngôi báu, đáng tôn trọng, đáng để cho chúng ta theo về.

Pháp là những điều dạy của đức Phật. Phật chỉ dạy cho chúng ta biết con đường sáng để noi theo, theo đường ấy mà tu…

… hành, đi đến giác ngộ, giải thoát. Phàm phu đang trôi lăn trong vòng sinh tử luân hồi, gặp được Phật pháp rồi nhờ đó tu hành mà được giải thoát, giống như người đang lạc trong biển cả nhờ thấy được ngọn hải đăng mà tìm về được nơi an toàn. Vì thế mới nói rằng Phật Pháp là một ngôi báu.

Chữ Tăng thường có nghĩa là vị sư, nhưng ở đây, Tăng là do chữ Tăng-già nói ngắn. Đó là đoàn thể các tu sĩ Phật giáo sống trong tinh thần Lục hòa:

1/ Giới hòa đồng tu (cùng giữ giới luật, hòa thuận với nhau, tương kính),

2/ Kiến hòa đồng giải (cùng thực hành giáo pháp của đức Phật, kiến thức hòa nhau),

3/ Lợỉ hòa đồng quân (chung hưởng vật dụng một cách hòa thụân),

4/ Thân hòa đồng trụ (trong khi ở chung, nhường nhịn nhau),

5/ Khẩu hòa vô tranh (nhường nhịn nhau về lời nói, không tranh cãi),

6/ Ý hòa đồng duyệt (vui buồn chia sẻ, kính trọng nhau, không để mích lòng).

Trong tập thể bốn vị tăng trở lên (như thế mới được gọi là tăng đoàn), sống mà giữ đúng theo tinh thần lục hòa là một việc hết sức khó khăn, thế mà tăng-già thực hành được, đó là một điều đáng quý. Hơn nữa, tự mình tu rồi, lại hướng dẫn người khác tu, thế lại là quý nữa. Vì vậy cho nên Tăng được coi là một ngôi báu.

2. Quy nghĩa là trở về, y nghĩa là nương tựa. Quy y Tam Bảo là trở về nương tựa nơi Phật, Pháp và Tăng. Tại sao nói là trở về? Thông thường, hàng ngày chúng ta sống mà luôn luôn chạy theo những ham muốn, ái dục…, vì thế chúng ta gây nghiệp, tích nghiệp nên phải trôi lăn mãi trong vòng sinh tử luân hồi. Một khi thức tỉnh để trở về nương tựạ nơi Tam Bảo, thì đấy là bước đầu trên đường tu tâm dưỡng tánh, trước hết là để sống ngay lúc này trong niềm an lạc, sau nữa là sẽ được giác ngộ và giải thoát

Quy y Tam Bảo (tức Tam Quy) chính là đặt nền móng cho việc tu giải thoát của mình.

3. Điều kiện để trở thành tín đồ Phật giáo là phải quy y Tam Bảo.

Người ta phân biệt hai thứ quy y : danh tự quy y và chân thật quy y. Khi mình còn nhỏ, theo cha mẹ đến chùa lạy Phật, viếng Thày và nghe thuyết pháp, cầu vui mà làm không vì lòng tin, không vì sự cầu Đạo, đó là danh tự quy y.

Đến khi khôn lớn, nên viếng qua các chốn sơn môn; khi chọn được ông Thày có đức hạnh, bấy giờ nên chính thức thọ Tam quy. Đó là chân thật quy y.

Ngoài ra, người ta còn phân biệt việc quy y Tam Bảo bên ngoài với việc quy y Tam Bảo tự tâm như sau đây:

4. Phật Pháp Tăng là đối tượng để chúng ta quy y.

Nguyện theo con đường Phật đã dạy là Quy y Phật. Đã quy y Phật thì hàng ngày phải nhớ nghĩ đến Phật (niệm Phật; niệm nghĩa là nhớ nghĩ), phải chiêm ngưỡng hình tượng của chư Phật, phải thực hiện đầy đủ các nghi lễ mà một Phật tử phải tuân theo.

Quyết tâm thực hành những lời chỉ dạy của đức Phật còn ghi trong kinh điển là Quy y Pháp. Hàng ngày, phải tụng kinh, niệm chú. Gặp lúc thuận tiện thì nghe thuyết pháp, nghe giảng kinh và chính mình tìm tòi nghiên cứu kinh điển; nếu không đủ hoàn cảnh thì ít nhất phải chăm niệm Phật, nhờ đó mà chặn được cái tâm lăng xăng, tránh được các tạp niệm và ác niệm. Kết quả là đầu óc sẽ minh mẫn hơn do loại trừ được các ảo tưởng, các tà kiến.

Thuận theo sự hướng dẫn tu hành của chư tăng là Quy y Tăng. Sách có nói: Kính Phật thì trọng Tăng. Trọng Tăng vì các vị đã can đảm ly gia cát ái, chấp nhận sống theo giới luật, tu hành tinh tấn, trên cầu đạo bồ đề, dưới hóa độ chúng sinh.

Quy y Tăng là quy y với những vị tăng sống đúng theo tinh thần Lục hòa. Khi một vị tăng làm lễ quy y cho một Phật tử thì vị ấy là đại diện cho cả tăng đoàn chứ không phải với tính cách cá nhân. Khi một Phật tử quy y một vị tăng thì có nghĩa là quy y tất cả chư tăng.

Quy y Tam Bảo như vừa nói trên gọi là sự quy y hay là quy y tam bảo bên ngoài.

5. Lý quy y hay quy y Tam Bảo tự tâm là thế nào ?

Đức Phật đã dạy rằng ai ai cũng có Phật tính, ai ai cũng có thể thành Phật. Phật tính đã có sẵn trong tâm chúng ta, đó chính là Phật Bảo nơi tự tâm. Tuy nhiên, do vô minh, do ái dục, do sai lầm, do tội lỗi, Phật tính trong ta đã bị che lấp, ta không biết là có. Hệt như người kia, có hạt ngọc quý giá buộc nơi chéo áo mà không biết nên vẫn phải sống cuộc đời nghèo khó. Chúng ta phải thanh lọc thân khẩu ý để cho Phật tính hiển bày, như khi mây mù tan biến thì mặt trăng ló dạng.

Trong tâm chúng ta, có sẵn lòng từ, lòng bi, đó chính là Pháp Bảo nơi tự tâm. Chúng ta hãy cố gắng thực hành các đức đó.

Trong tâm chúng ta có sẵn khuynh hướng tìm sự thanh tịnh cho bản thân, mong mỏi hòa hợp với mọi người, đó là vị Thày trong ta, đó chính là Tăng Bảo nơi tự tâm.

Nhờ Phật Bảo bên ngoài, chúng ta đánh thức Phật tính của mình, trở về nương tựa nơi Phật tính của mình. Đó chính là Quy y Phật nơi tự tâm.

Nhờ Pháp Bảo bên ngoài, chúng ta dấy khởi lòng từ bi đối với chúng sinh, trở về nương tựa nơi lòng từ bi của mình. Đó chính là Quy y Pháp nơi tự tâm.

Do chư Tăng bên ngoài gợi lại cho chúng ta có tinh thần hòa hợp thuần thảo, trở về với tinh thần hòa hợp thuận thảo của mình là Quy y Tăng nơi tự tâm.

Khi chúng ta nghe nói Quy y Phật tánh, Quy y Pháp tánh, Quy y Tăng tánh, là nói về ý Quy y Tam Bảo tự tâm trên đây.

Phật Pháp Tăng bên ngoài là trợ duyên giúp chúng ta phát khởi Phật Pháp Tăng của tự tâm. Tam Bảo bên ngoài chỉ là trợ duyên, còn bản thân người Phật tử phải cố gắng đánh thức Tam Bảo của mình để tu ngõ hầu được giác ngộ và giải thoát,

Chỉ biết có Tam Bảo bên ngoài là chấp sự bỏ lý. Chỉ tin vào Tam Bảo tự tâm là chấp lý bỏ sự. Phải viên dung cả lý lẫn sự mới là đúng.

6. Khi đã quy y Tam Bảo thì người Phật tử phải rứt khoát xác định rõ lập trường như sau này:

“Quy y Phật, không quy y Thiên, Thần, Quỷ, Vật”. Phật là đấng giác ngộ, chúng ta quyết tâm theo Phật. Thiên, Thần, Quỷ chỉ là chúng sinh, chưa hết nghiệp báo, còn chịu luân hồi như chúng ta, cho nên chúng ta chẳng cần theo mà nương tựa.

“Quy y Pháp, không quy y ngoại đạo tà giáo”. Phật pháp là chánh pháp, là chân lý, là con đường sáng để noi theo mà đạt quả giải thoát, giải thoát khỏi mọi khổ đau, giải thoát khỏi sinh tử luân hồi. Cầu chân lý nơi Phật pháp là đủ; tà giáo làm chia trí, giảm lòng tin, gây nghi kỵ, những đều ấy làm trở ngại việc tu hành.

“Quy y Tăng, không quy y bạn dữ, nhóm ác”. Đã chọn các vị hạnh cao đức trọng để nương theo, nhờ đó tu hành đúng đường do Phật chỉ, chúng ta cần xa lánh những bạn dữ, nhóm ác, là những thứ có thể làm hại chúng ta về nhiều mặt, vì ai cũng biết “gần mực thì đen, gần đèn thì sáng”.

7. Khi muốn quy y Tam Bảo thì đến chùa để hỏi xem có dịp nào tổ chức lễ quy y Tam Bảo không. Thường thường các chùa hay tổ chức lễ quy y Tam Bảo vào các ngày lễ lớn, như lễ Phật Đản, lễ Vu Lan … Trong buổi lễ, Phật tử quỳ trước Tam Bảo, phát nguyện (3 lần): “Đệ tử (tên là) xin suốt đời quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng”. Đây là câu phát nguyện với tất cảtâm thành và lòng tự giác, của mình , không ai bắt buộc.

Nghi thức long trọng, trang nghiêm của buổi lễ Tam Quy là trợ duyên cho lời phát nguyện của Phật tử được viên mãn, làm cho Phật tử nhớ lâu, trong tâm thức được gieo chủng tử tốt, sau nhờ tinh tấn tu hành mà các chủng tử ấy đơm hoa kết trái.

Tam Quy là bước đầu trên đường học Phật, là nền móng của công phu tu tập. Bước đầu cần phải đúng hướng, nền móng cần phải vững vàng. Phật Pháp Tăng giúp chúng ta đi đúng hướng, xây móng vững vàng.

Khi đã thành tâm quy y Tam Bảo, chính thức trở thành một tín đồ Phật giáo, thì phải ăn ở, làm việc, cư xử, tu tập đúng tinh thần Phật giáo và nên biết rằng:

Quy y Phật, không đọa địa ngục, Quy y Pháp, không đọa ngạ quỷ, Quy y Tăng, không đọa súc sinh. □

Tài liệu tham khảo:

– Bước đầu học Phật, HT Tâm Châu.

– Tam quy, ngũ giới, HT Thanh Từ.

– Phật học Phổ thông, HT Thiện Hoa.

– Phật học Từ điển, Đoàn Trung Còn.

– Les bases fondamentales du Bouddhisme Mahayana, HT Huyền Vi. □

Bài 14. CỐT TỦY ĐẠO PHẬT

Tôi còn nhớ năm ngoái, vào dịp Phật đản, một đạo hữu đã bảo tôi rằng: “Tôi muốn học Phật nhưng kinh sách quá nhiều mà thì giờ lại ít, nếu đạo hữu chịu khó tóm tắt sao cho tôi thấy được cốt tủy đạo Phật rồi từ đó tuần tự tìm hiểu rộng ra sau thì quí hóa lắm”.

Tôi chỉ vâng dạ qua loa nhưng không dám nhất định nhận lời vì công việc đó đâu có dễ. Nhờ sự giúp đỡ của ban Hoằng Pháp và lời khuyến khích của các đạo hữu thân thuộc, tôi đã viết được mấy trang này đem trình quí vị ngày hôm nay, hy vọng rồi sẽ đính chính và bổ túc về sau, vì thế nào cũng gặp nhiều khuyết điểm.

1. Mỗi khi lễ bái chúng ta quy y Tam Bảo tức là quy y Phật, Pháp, Tăng. Trong Pháp bảo có tứ pháp:

a. Giáo pháp do chư Phật tam thế thuyết ra để phá vỡ vô minh phiền não.

b. Lý pháp là những nghĩa lý trong giáo-pháp.

c. Hành pháp là những phép tu hành.

d. Quả pháp là sự chứng quả khi tu hành.

Tứ pháp nói gọn là giáo, lý, hành, quả.

Hôm nay, thời giờ eo hẹp, tôi xin chỉ trình bày về giáo lý mà thôi.

2. Giáo-lý căn bản của đạo Phật nằm trong bài pháp đầu tiên của đức Thích-Ca Mâu-Ni. Sau khi Ngài đắc đạo, đức Phật thuyết bài pháp thứ nhất cho nhóm ông Kiều-Trần-Như (gồm 5 người) tại vườn Lộc Uyển, đó là Kinh Chuyển Pháp Luân mà nội dung là Tứ Diệu Đế (bốn chân lý vi diệu, bốn sự thật chắc chắn, rõ ràng).

a. Khổ-đế: Cuộc đời là bể khổ, “nước mắt chúng-sinh nhiều hơn nước đại dương”. Đức Phật không bi quan yếm thế, Ngài chỉ nhận xét sự thật đó của kiếp nhân sinh mà thôi, đồng thời Ngài dạy cho chúng sinh con đường thoát khổ. Khổ thì nhiều nhưng không có cái khổ nào bằng cái khổ sinh tử luân hồi. Đạo Phật có mục đích chỉ dẫn cho chúng sinh con đường giải-thoát khỏi cái khổ sinh tử luân hồi đó.

b. Tập-đế: Nguyên do của khổ là tham dục. Đào sâu vấn đề, sẽ thấy cái gốc “vô-minh”, tức là sự mê mờ không thấy chân lý của vũ trụ, của nhân sinh.

c. Diệt-đế: Muốn diệt khổ, thì cách duy nhất là diệt vô-minh, diệt tham dục.

d. Đạo-đế: Phương pháp diệt khổ diệt tham dục là bát chánh đạo. Tám chi này của con đường tu hành được gom lại ba, là tam học, tức giới, định, huệ:

– Giới gồm chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng,

– Định gồm chánh tinh-tấn, chánh niệm, chánh định,

– Huệ gồm chánh kiến, chánh tư duy.

Tập đế và khổ đế là nhân, quả thế gian. Đạo-đế và diệt-đế là nhân, quả xuất thế gian.

Thành công trong đạo-đế sẽ chứng ngộ Niết-bàn, tâm an trụ trong cảnh vắng lặng thường còn, không còn thọ quả vì đâu có gây nhân. Do vô sinh cho nên bất tử.

3. Bây giờ chúng ta bàn về Lý vô thường.

Trên thế gian này, cái gì cũng biến đổi, có thứ đổi nhanh, có thứ đổi chậm, nhưng chắc chắn có đổi. Trong thân ta, từng giây từng phút, tế bào này chết đi, tế bào khác sinh ra; tâm trạng này nối tiếp tâm trạng kia, ý nghĩ này tiếp theo ý nghĩ khác v.v… Không riêng gì đức Phật nhận ra lý vô thường. Văn nhân, thi sĩ, triết gia cũng nói tới tính cách vô thường của kiếp nhân sinh và của vạn vật:

Ôi nhân sinh là thế ấy

Như bóng đèn, như mây nổi

Như gió thổi, như chiêm bao,

Ba mươi năm hưởng thụ biết chừng nào,

Vừa tỉnh giấc nồi kê chưa chín!

Nguyễn-Công-Trứ

Trăm năm trong cuộc bể dâu,

Người cùng cây cỏ khác nhau chút nào!

Đang tươi bỗng héo biết bao nhiêu lần. . .

Nguyễn-Trãi, Côn Sơn Ca

Ba chục năm trời danh tiếng hão,

Quay đầu muôn sự giấc Nam Kha!

Nguyễn-Trãi

Trải qua một cuộc bể dâu,

Những điều trông thấy mà đau đớn lòng.

Nguyễn-Du

Hiểu được lý vô thường, ta sẽ không còn bám víu vào của cải, danh vọng, trái lại ta mong cầu một thứ gì bền vững hơn, thanh-tịnh hơn. Vì thế vua Trần Thái Tông đã khuyên rằng:

Linh đan, chớ cậy “trường sinh thuật”

Thuốc quý, khôn mong “bất tử xuân”.

Cõi quỷ hãy xin rời bỏ sớm

Hồi tâm hướng đạo dưỡng thiên chân.

Bốn núi ( trong Khóa Hư Lục của vua Trần Thái Tông)

4. Lý nhân quả. Một trong các định luật của vũ trụ là lý nhân quả.

Đức Phật không đặt ra các định luật này, Ngài nhờ đại trí tuệ mà khám phá ra các định luật đó.

Nói đơn giản thì mỗi khi có một nguyên nhân tác động thì có kết quả kèm theo. Thí dụ gõ vào chuông thì có tiếng chuông.

Sự thật lý nhân quả phức tạp hơn nhiều. Ta nên tìm hiểu kỹ hơn:

a. Nhân phải có duyên kèm theo thì mới sinh quả được. Hạt lúa để trên hòn gạch sẽ không sinh ra cây lúa. Hạt lúa cần các duyên như độ ẩm, ánh sáng, công chăm sóc v.v… mới sinh ra cây lúa được.

b. Nhân nào sẽ tạo quả đó. “Trồng dưa thì được dưa, trồng đậu sẽ được đậu”. Làm lành sẽ hưởng quả lành, làm ác sẽ hái quả ác, chắc chắn như vậy.

c. Trong nhân có sẵn mầm để sinh quả và tiếp theo đó cái quả ấy sẽ đứng làm nhân để sinh ra quả khác, cứ thế mãi. . .

d. Thời gian để nhân sinh quả thay đổi tùy trường hợp. Gõ chuông, tức khắc có tiếng; gieo mạ phải đợi ba bốn tháng mới gặt lúa. Có khi đời này tạo nhân, mấy đời sau mới chịu quả báo.

Lý nhân quả áp dụng vào đời người đưa đến quan niệm về nghiệp báo và luân hồi. Thân, khẩu, ý tạo ra thân nghiệp, khẩu nghiệp, ý nghiệp (tam nghiệp). Nói chung là nghiệp, đó là cái nhân. Chắc chắn sẽ có quả báo. Nghiệp lực tuy vô hình nhưng rất mạnh, nó lôi cuốn chúng sinh thọ quả báo. Thọ quả báo rồi, lại gây nghiệp mới, cứ như vậy mãi. Cho nên sống chết, chết sống, kiếp này xong tiếp đến kiếp khác. Đó là luân hồi. Giảng về luân hồi, đức Phật dùng thuyết thập nhị nhân duyên.

Hiểu lý nhân quả, nghiệp báo, người ta sẽ hiểu rằng chính mình chịu trách nhiệm về những gì mình đã làm, đã nói và đã nghĩ. Vui, buồn, sướng, khổ chỉ là quả báo của các nghiệp nhân từ các kiếp trước và kiếp này tích lũy lại mà thôi.

Để thoát khỏi vòng luân hồi thì phải tu giải thoát, giải thoát khỏi nghiệp sinh tử, giải thoát bằng cách chặt đứt vòng xích 12 nhân duyên, tức là phá vỡ vô-minh đạt giác ngộ.

5. Lý duyên khởi.

Theo quan niệm của nhà Phật thì vạn pháp đều từ các duyên mà sinh ra.

Duyên tức là các thành phần, các phần tử, các nguyên tố v.v… hợp lại với nhau. Thí dụ như cái bàn do gỗ, đinh, cưa, đục, và bàn tay ông phó mộc v.v… mới thành. Trước đó không có cái bàn, nhiều duyên hợp lại có một thứ tạm gọi là bàn cho tiện, cho gọn. Mỗi một cái duyên mà ta vừa kể không phải là cái bàn. Đó là một thí dụ. Nghĩ rộng ra từ vật cực nhỏ cho đến vật cực lớn, đều phải nằm trong lý duyên khởi, cả đến những thứ không hình tướng cũng do duyên khởi. Điện cần đến điện âm, điện dương phối hợp. Gió cần đến sự cách biệt về áp suất giữa hai nơi khác nhau để tạo ra sự di chuyển của không khí. Tư tưởng con người cũng phát ra nhờ lục căn tiếp xúc với lục trần. Mắt có tiếp xúc với vật và nhãn thức có làm việc thì mới có sự thấy và biết v.v…

Mỗi vật phải do những phần tử khác hợp lại, như vậy vật đó không có “tự thể”, không có “thực thể”. Danh từ cái bàn chỉ là một cái tên tạm đặt cho một món đồ, lúc duyên tan thì hết cái bàn. Do đó mới có quan niệm về chữ Không, chữ Huyễn, chữ Ảo.

Tâm Kinh Bát-nhã ghi: “Sắc tức là không, không tức là sắc, thọ, tưởng, hành, thức cũng đều như thế”.

Nguyễn Gia Thiều viết trong Cung Oán Ngâm Khúc:

Tuồng ảo hoá đã bày ra đấy,

Kiếp phù-sinh trông thấy mà đau.

Nguyễn Trãi đã nhận xét và khuyên:

Rốt cuộc muôn điều hư ảo cả,

Thôi luận làm chi mất với còn.

Nhà Phật nói “Không”, Không đây chẳng phải là “Không có gì”, chẳng phải là “không” trái với “có”. Không đây có nghĩa là không thật, không thật vì dựa vào duyên mà thành, hết duyên thì tan. Có, quả là có đấy, nhưng mà là giả có. Người Phật-tử hiểu lý duyên sanh sẽ nhìn sự vật mà không mê lầm. Vua Trần Thái Tông đã viết:

Lưỡi vướng vị ngon, tai vướng tiếng,

Mắt theo hình sắc, mũi theo hương,

Lênh đênh làm khách phong trần mãi,

Ngày hết, quê xa vạn dặm đường.

Vướng víu, bám chặt vào những sắc, thanh, hương vị, nên luân hồi mãi, quên quê của mình. Quê này ở đâu? Chúng ta cần suy ngẫm, và trở về quê. Đó chẳng qua là cái Phật tánh của mình, mình có sẵn mà mình bỏ quên nó, có thế thôi.

6. Lý duyên khởi đưa đến một quan niệm rất đặc biệt của Phật-giáo: đó là thuyết vô ngã một thuyết hết sức cao siêu, rất khó thâm nhập và có thể được coi là hòn đá thử vàng của những ai tu giải thoát.

Con người là do “ngũ uẩn” duyên hợp. Sắc, thọ, tưởng, hành, thức là “năm uẩn”, hợp với nhau thành một con người, năm uẩn hết hợp thì hết con người. Vậy cái “ta” chỉ là một tên gọi cho tiện; y hệt trường hợp tên gọi cái bàn mà ta đã nói trên đây. “Tôi, của tôi”; “ta, của ta” chẳng qua chỉ là những cách nói qui ước trong xã hội này, vì thật ra đem phân tích ngũ uẩn, chẳng có gì là “cái ta” thật sự cả. “Sắc” là phần vật chất, “thọ, tưởng, hành, thức” là phần tinh thần, gọi ngắn là “thân, tâm”.

HT Walpola Rahula viết trong sách L’Enseignement du Bouddha: “cái mà ta gọi là một linh hồn, hay cá thể hay tôi chỉ là một tên gọi cho tiện hay là một nhãn hiệu để đặt cho sự nhóm họp của năm uẩn ấy. Tất cả chúng đều là vô thường, tất cả đều hằng biến”. (trích trong Con đường thoát khổ, Thích Nữ Trí Hải dịch sách ghi trên).

Quan niệm “Không có cái ta” là một quan niệm rất cao, rất khó và đặc biệt là rất khó thực hành. Hôm nay, chúng tôi chỉ xin giới thiệu để rồi quí vị nghiên cứu thêm.

Đạt đến Niết-bàn là thế nào? Là:

a. diệt được tham, sân, si, b. hết cái ta, c. thoát sinh tử luân hồi.

Lúc đó là thành Thánh, thành Phật.

7. Bây giờ chúng ta bước sang chân-lý tột cùng của đạo Phật đó là vấn đề Phật-tánh. Đây thuộc lĩnh vực tuyệt đối. Đã là tuyệt đối thì không thể dùng ngôn ngữ, văn tự của phàm nhân chúng ta mà mô tả, mà định nghĩa, mà giới thiệu được.

Nói tạm thì như sau: sự sự vật vật trong vũ trụ này có chung một bản thể, bản thể này không bị luật vô thường, luật nhân quả, luật duyên khởi chi phối. Nó “không sinh không diệt, không nhơ, không sạch, không thêm, không bớt” như Tâm Kinh đã chỉ.

Bản thể này có nhiều tên để gọi: Phật tánh, chân tâm, chân như, như lai tạng, bổn lai diện mục, Di-Đà tự tánh, Pháp thân, Không . . .

Gọi gì thì gọi, chúng ta không thể học mà biết được, nghe nói mà hiểu được. Chỉ những ai tu hành đến một mức nào đó thì ngộ, thì hiểu.

Ngài Thường Chiếu (tịch năm 1203) viết bài kệ:

Thân tuy sống trên đời,

Tâm là như lai tạng,

Chiếu rạng cả mười phương,

Nhưng tìm thì biệt dạng.

Đạo vốn không nhan sắc,

Mà ngày càng gấm hoa,

Trong ba ngàn cõi ấy,

Đâu chẳng phải là nhà.

Ngài Mãn Giác (tên Nguyễn-Trường, cuối thế kỷ XI) làm bài thơ sau này:

Xuân đến trăm hoa nở.

Xuân đi trăm hoa rơi,

Trước mắt đời diễn biến,

Trên đầu già đến nơi,

Đừng nói xuân đi hoa rụng hết

Đêm qua sân trước một cành mai.

Hoa rụng hết , rụng hết, nhưng vẫn còn một cành mai. Một cành mai đó là gì vậy? Đó là tác giả muốn nói đến chân như bất sinh bất diệt của vạn pháp.

Cái chân như ấy cũng là cái chân không. Nó là bản thể, nó là một; nhưng khi hiện ra hình tướng thì vô biên tướng trạng; nước là một nhưng sóng thì rất nhiều!

Do đó mới có câu “Chân không diệu hữu”:

Có thì có tự mảy may

Không thì cả thế gian này cũng không.

Nhập vào bản thể, đó là thành Phật, nhà thiền gọi là kiến tánh thành Phật.

Ngài Huyền Quang khi vịnh chùa Hoa Yên, có câu:

Biết được tính ta nên bụt thật,

Ngại chi non nước cảnh đường xa.

Nhập bản thể vũ trụ nên tràn ngập không gian, choán hết thời gian, chiếu sáng mọi nơi, hiện hữu mọi lúc, đủ hết năng lực, biến hóa từ chân không ra diệu hữu. Nói cho dễ, đó là Tạo hóa, là Thượng Đế, là Ngọc Hoàng, nói nôm na là ông Trời.

Đức Phật tùy căn cơ chúng sinh mà chỉ dạy. Đối với người chậm hiểu, hoặc ít thời giờ tu học, Ngài dạy cho biết Phật A-Di-Đà vô lượng quang, vô lượng thọ, làm giáo chủ cõi Cực-lạc phương Tây; hãy niệm Phật đến nhất tâm bất loạn mà xin về đó.

Đối với người căn cơ khá hơn, Ngài dạy cho biết “Phật tại tâm”, nói thật ra là Phật tánh có tại mỗi người, ai tu đến kiến tánh thì thành Phật.

Cao hơn nữa, Ngài dạy cho biết Phật tánh này là bản thể của vũ trụ, trở về được với Phật tánh này là tự hòa mình vào vũ trụ, bao nhiêu năng lực biến hóa đều có cả. □

Chú ý: Người ta thường dùng chữ Pháp tánh để chỉ bản thể của vạn pháp và chữ Phật tánh để chỉ bản thể của chúng sinh.

Hoằng Hữu Nguyễn Văn Phú

(Bước vào cửa Phật – Book 1)

-Hình : Chùa Thiên Trù – Hương Sơn – NN sưu tầm –

Add a Comment

Your email address will not be published. Required fields are marked *

tumblr hit counter