17/06/2012 1.Ngày17/6:Kỷ niệm ngày sinh Đức Phật Quán Thế Âm-.2.Chữ "Tâm"-3.I give you my life(Ch.11)- 4.Một người Úc có tấm lòng vàng(RFA)-

17/06: 1.Ngày17/6:Kỷ niệm ngày sinh Đức Phật Quán Thế Âm-.2.Chữ “Tâm”-3.I give you my life(Ch.11)- 4.Một người Úc có tấm lòng vàng(RFA)-
Category: Tôi Tìm Hiểu Đạo Phật
Posted by: Tbl Đọc: 5329 lần

FW: Đức Phật Bà QUAN ÂM ra đời…
Xin chuyển.

DQ

Date: Sun, 17 Jun 2012 00:47:56 -0400

Hôm nay Ngày Đức Phật Bà QUAN ÂM ra đời, xin thành kính suy tôn…
Cầu nguyện mọi chúng sinh được THÂN TÂM AN LẠC…

**Cám ơn bạn Đức Quý đã gửi hình và lời nhắc nhở để chúng ta cùng nhớ đến ngày Vía của Phật Bà Quán Thế Âm – **

………………………………………………………

Fwd: Chữ TÂM

Greg Le to me

Một phút suy tư :…

… Chữ TÂM

Tâm là một điểm tuy nhỏ nhưng quan trọng, nên người ta mới gọi là tâm điểm.
Tâm của con người càng quan trọng hơn vì nó nói lên nhân cách của một con người :

-Tâm lệch lạc thì cuộc sống nghiêng ngã đảo điên.
– Tâm gian dối thì cuộc sống bất an.
– Tâm ghen ghét thì cuộc sống hận thù.
– Tâm đố kỵ thì cuộc sống mất vui.
– Tâm tham lam thì cuộc sống dối trá…

Cho nên, ta không những đem tâm của mình đặt ngay trên ngực để yêu thương, mà còn :

– Đặt trên tay để giúp đỡ người khác.
– Đặt trên mắt để nhìn thấy nổi khổ của tha nhân.
– Đặt trên chân để mau mắn chạy đến với người cùng khổ.
– Đặt trên miệng để nói lời an ủi với người bất hạnh.
– Đặt trên tai để biết nghe lời than trách, góp ý của người khác.
– Đặt trên vai để biết chịu trách nhiệm và chia sẻ trách nhiệm với anh em chị em.

Thân xác không tim thì thân xác chết, làm người không có tâm thì cuộc sống chỉ có hận thù và là mối nguy hiểm cho mọi người.

…………………………………………………..

QUÀ TẶNG CUỘC ĐỜI
Tự Truyện Của Một Ni Sư Phật Giáo Người Tây Phương: Ayya Khema
Dịch từ tiếng Đức: Sherab Chodzin Kohn – Dịch từ tiếng Anh: Diệu Liên-Lý Thu Linh

Chưong 11
Bắt Đầu Cuộc Sống Nơi Tu Viện

Sức khỏe là gia sản to lớn nhất
Biết đủ là kho tàng quí báu nhất
Thành tín là bạn chí thân
Niết bàn là hạnh phúc vô biên.
Kinh Pháp Cú – 204

Trên trang trại chúng tôi có một ngôi nhà nhỏ, nằm dưới những tàng cây to nên bên trong nhà không khí rất thoáng mát. Các gia đình trong vùng thường chứa sữa bò vắt trong những căn nhà như thế này, cho đến khi thuận tiện họ mới đến lấy đi. Lúc đó, chưa có tủ lạnh. Căn nhà chứa sữa của chúng tôi để trống vì chúng tôi không có nuôi bò sữa. Sau nhiều suy nghĩ, chúng tôi biến nơi đó thành một ngôi nhà thờ nhỏ, một ngôi nhà thờ cho mọi tôn giáo, vì cho tới lúc đó, chúng tôi cũng chưa biết phải theo tôn giáo nào.

Các món quà lưu niệm từ những đất nước chúng tôi đã đặt chân đến giờ được trưng bày trong ngôi nhà thờ này. Từ các vị thần của Ấn Độ giáo đến các tượng Phật, hay các tượng thờ của các dân tộc thiểu số. Từ các đồ cổ vật cho đến các đồ dùng trong các buổi lễ của người Do Thái, các loại đèn, chân đèn cầy cũng được trưng bày ra.

Trang trại của chúng tôi được gọi là Shalom, tiếng Do Thái có nghĩa là “Hòa Bình”. Nơi đây đúng là một nơi yên tĩnh. Chúng tôi vẫn ngồi thiền hằng ngày trong ngôi đền nhỏ đó.

Ở trang trại có rất nhiều việc phải làm. Tôi luôn bận rộn vỡ đất, nhỏ cỏ, khiêng đất đá. Tôi thường lo sợ cho sự an toàn của chúng tôi vì ở Shalom thường bị nạn cháy rừng. Một lần có trận cháy rừng tràn xuống đồi vào thung lũng của chúng tôi. Chỉ có những ai đã từng chữa cháy bằng các xô nước mới hiểu được sự cực nhọc và nỗi lo sợ của con người trong những trường hợp như thế. Có cả trăm người hàng xóm đến giúp, chúng tôi mới không bị cháy nhà, cháy cây cối hay gia súc. Chúng tôi nhốt tất cả dê, ngựa vào nhà, và nhờ nhân viên phòng chữa cháy trông hộ. Trong khi cây trái và cả cánh đồng cỏ thì hoàn toàn nhờ vào những xẻng, xô, bao tải của láng giềng và trí thông minh của người nông dân.

Phụ nữ thì trèo lên các đồi cao mang bánh mì, thức uống đến cho cánh đàn ông. Sau sáu giờ sống trong sợ hãi, lo lắng, mệt mỏi, khói cay, sức nóng ngột ngạt, chúng tôi đã đẩy lùi được hiểm nguy. Nhưng sau đó chúng tôi phải luân phiên canh chừng cháy suốt trong hai ngày, vì mùa hè ở đây rất dễ sinh ra cháy rừng.

Ở Úc, khí hậu rất khắc nghiệt. Người gọi mưa là bão. Vì mỗi cơn mưa đều nhanh chóng trở thành bão. Mỗi năm ít nhất một lần đều có bão lũ ở Queensland, cuốn trôi các mái nhà. Mái nhà của tôi chưa bị thổi mất, nhưng tôi đã từng chứng kiến những thân cây to bị nước cuốn phăng qua các đồi núi, tấp vào khu vườn nhà chúng tôi.

Ban đầu, các cơn bão này đều làm tôi sợ. Nhưng dần dần tôi cũng quen đi, không còn cảm thấy hoàn toàn bất lực như lúc đầu. Trang trại của chúng tôi ở chỗ hơi hẻo lánh. Người láng giềng gần nhất cũng xa hơn kílômét. Lớn lên ở thành thị, tôi không hề biết đến những tai hoạ này. Chúng đã làm khổ tôi.

Ngoài ra ở Uùc cũng có nhiều loại rắn độc khiến tôi không yên tâm chút nào. Phải mãi về sau, tôi mới chấp nhận được chúng cũng là một phần của đời sống thiên nhiên trên trang trại.

Đôi khi tôi cũng hồi tưởng về ngôi nhà ở San Diego, về những ngày sống như một người nội trợ, trong một cuộc sống bình thường. Dầu tôi không bao giờ mơ ước trở lại cuộc sống đó, nhưng cuộc sống rày đây mai đó, cuộc sống luôn gần với những bất trắc, hiểm nguy, xa lạ, cũng đòi hỏi ở tôi rất nhiều sự thích ứng. Giờ, nhìn lại, tôi có thể nói rằng trong những lúc hiểm nguy, sợ hãi, người ta chỉ có thể chống trả lại sự sợ hãi bằng cách tìm nguyên nhân tạo tác ra nó. Nếu không thể làm thế, ta sẽ không bao giờ biết được sức mạnh của mình, mà trên phương diện tinh thần thì sức mạnh đó vô bờ bến.

Tôi đã rèn luyện được lòng tự tin mãnh liệt. Tôi đã biết con người dầu ở nơi đâu, ngôn ngữ là gì, cũng đều giống nhau. Ai cũng muốn được hạnh phúc, nhưng không mấy ai tìm được hạnh phúc. Điều đó là sự thật không chối cãi được.

Cuộc đời là một quá trình của xả ly. Đó là những điều tôi nhận thức được ở thời điểm đó. Tôi không tin rằng, tôi có thể hoàn thành quá trình đó nếu không có những chuyến đi mở rộng tầm mắt của tôi. Tôi không tin rằng tôi có thể trụ lại ở trang trại này dài lâu, nếu tôi đi từ San Diego thẳng đến đây.

Ở Shalom, chúng tôi nuôi gà, một đôi công, bảy con dê, hai con ngựa cưỡi, chó mèo và hai mươi lăm con ngựa Shetland. Về ăn uống, chúng tôi theo đúng cách hướng dẫn trong các sách về sức khoẻ. Do đó, chúng tôi không uống cà-phê, trà đậm -chỉ uống nước nấu từ các dược thảo, do chính chúng tôi phơi khô, và dùng rất ít đường. Thay vào đó, chúng tôi dùng mật ong nuôi trong vườn. Dùng sữa và bơ làm từ sữa dê, ăn rau quả do chính chúng tôi trồng, chuối cũng từ vườn nhà, ngũ cốc cũng hoàn toàn không bị phun thuốc trừ sâu hay bất cứ thứ thuốc độc hại nào.

Dầu vậy, tôi vẫn bị bịnh thiếu máu. Lúc đầu, tôi hoàn toàn không biết mình bị bịnh gì. Tôi chỉ cảm thấy mệt mỏi, nặng nề, không còn sức lực để trèo lên các cầu thang nhà. Bác sĩ xem bịnh, nói ngay rằng tôi quá xanh. Oâng bảo là tôi bị bịnh thiếu máu mãn tính, giải thích rằng căn bịnh đó không thể chữa khỏi. Người ta cứ phải chích vitamin B12 suốt đời.

Tôi không hài lòng lắm vì lời chẩn đoán này. Tôi hãy còn trẻ, và không bao giờ tưởng tượng mình có thể mắc những căn bịnh mãn tính. Tôi tự chữa trị mình bằng cách bắt đầu ba tháng tuyệt thực, chỉ uống ròng nước nho. Có nghĩa là cơ thể của tôi không chứa gì hơn là nước trái cây, hoặc vài trái nho đen. Tôi đã biết về cách chữa trị này qua một quyền sách tôi đã đọc.

Cách chữa trị này thật hiệu nghiệm. Sau một thời gian, lượng máu của tôi đã trở lại bình thường, và giữ được mãi như thế cho đến ngày nay. Sau lần giải phẩu ung thư ba năm trước đây, độ máu tôi có hơi bất thường, nhưng sau đó, tôi lại làm nó trở lại bình thường. Giờ tôi sống cũng như tôi đã sống, hết sức giản dị, tự nhiên, tránh ăn thịt, là điều quá dễ dàng cho tôi.

Một ngày kia, có một tu sĩ Phật giáo đến viếng trang trại của chúng tôi. Oâng là người Anh, có tên là Phra Khantipalo. Oâng không có nhà cửa, nên chúng tôi mời ông đến tá túc với chúng tôi. Chúng tôi để ông ở tạm trong phòng dành cho khách quen, trong lúc Gerd và ông dựng một cái chòi gỗ, gọi là kuti, cho ông ở giữa rừng trên phần đất của chúng tôi. Được ở cạnh bên ôâng, chúng tôi đã học được rất nhiều điều.

Khi Phra Khantipalo giảng cho chúng tôi về giáo lý của Đức Phật, tôi bỗng nhận ra: những điều đó tôi có thể hiểu và thực hành được. Thí dụ về năm giới. Không được sát sanh; Không trộm cắp; Không nói dối hay nói lời ác độc; Không uống rượu hay sử dụng ma túy; Không tà dâm. Người ta có thể thực hành những điều ngược lại: thương yêu, độ lượng, tín cẩn và trung thành; chánh ngữ và chánh niệm.

Đây là lần đầu tiên tôi được nghe những điều mà tôi có thể nói là rất gần gủi, tôi có thể hiểu được ngay, không cần phải suy nghĩ gì. Tôi biết đó là chân lý, biết tôi phải làm gì để thực hiện chúng. Đây là con đường tâm linh thực sự chỉ cho ta biết phải thay đổi như thế nào để đạt được sự thanh tịnh nội tâm. Tôi tổ chức những buổi học để vị tu sĩ này có thể giảng cho tất cả những ai muốn nghe. Ngoài ra tôi cũng mới nhiều vị thầy khác tham dự nữa.

Hai chúng tôi tiếp tục lãnh hội nhiều điều từ thầy Phra Khantipalo. Đối với tôi, đây là một dịp may lớn, giúp tôi tìm ra hướng đi cho mình. Tôi luôn suy tư về điều đó. Tôi thấy rất rõ rằng dù cho cuộc sống của chúng tôi lành mạnh, trong sạch, hữu ích, nó cũng không mang lại cho tôi niềm hạnh phúc, sự bình an mà tôi luôn kiếm tìm.

Jeffrey đã được mười tám tuổi, đã dọn về thủ đô Brisbane để theo học trường đại học ở đó. Con trai tôi cũng muốn trở thành một kỹ sư điện giống như Gerd, nhưng sau hai năm, nó đã chuyển qua học vi tính. Vì Jeffrey học rất giỏi, nên chính phủ đài thọ tất cả tiền chi phí ăn học của cậu.

Một ngày kia, tôi quyết định bay qua Mỹ, viếng thăm thiền viện San Francisco. Rồi từ đó tôi đến Tassajara, một nơi rất đẹp trong thung lũng ở phía bên kia dãy núi Carmel, dọc theo bãi biển California. Nơi đó có các suối nước nóng và một cái hồ trên núi lớn. Tôi đã ở đó khoảng ba tháng để học hỏi về thiền Phật giáo.

Thật là một khoảng thời gian tuyệt vời. Tôi không phải trả một chi phí nào, vì tôi làm việc ở đó. Công việc của tôi là giữ cho các buồng tắm được sạch sẻ. Do đó tôi có thể tắm suối nước nóng tùy thích, lúc nào cũng được. Chỉ có điều ở đây tôi không được nghe Phra Khantipalo giảng về Phật pháp.

Thiền Phật giáo dựa vào những giáo lý được truyền từ các vị Thiền sư qua bao nhiêu thế kỷ. Thiền được truyền đến Trung Hoa vào thế kỷ thứ sáu, sau đó, vào thế kỷ thứ mười hai, thiền có mặt ở Nhật bản. Và ở đâu thiền cũng được phát triển mà vẫn hoà hợp với văn hóa của Trung quốc cũng như Nhật bản. Điều đó cũng đã xảy ra với Phật giáo Tây tạng, Phật giáo vẫn phát triển theo văn hóa của Tây tạng.

Tôi theo Phật giáo Nguyên Thủy, tuân theo những lời dạy của Đức Phật từ hơn 2500 trước đây. Chúng tôi rất mong là Phật giáo sẽ được phát triển ở Tây phương để nó trở thành tự nhiên, bình thường. Phật giáo có thể đóng góp vào việc làm giàu thêm đời sống tôn giáo ở châu Aâu, mà vần không đàn áp những tôn giáo hiện hành.

Khi trở về Uùc, tôi có cảm tưởng rằng Gerd không bằng lòng việc tôi đi vắng quá lâu. Dầu gì chúng tôi cũng lại sum họp, và tôi có bao điều để tâm sự với anh. Suy cho cũng, anh cũng rất thích Phật giáo. Tôi chắc rằng anh cũng mong ước tôi đã tìm được con đường đi đúng. Nhưng lúc đó tôi không hề biết rằng anh không có nỗi say mê tìm hiểu về Phật giáo sâu xa, quyết liệt như tôi. Sau này, tôi mới hiểu sự vắng mặt của tôi khiến anh hiểu lầm là tôi không ủng hộ mô hình nông nghiệp thiên nhiên của anh. Nhưng lúc đầu, tôi không hề để ý đến những vấn đề này.

Trang trại của chúng tôi, ngôi đền nhỏ và cái kuti (thất) trong rừng đã lôi cuốn nhiều vị thầy khác. Họ đến, nói pháp và dạy chúng tôi nhiều phương pháp tọa thiền.

Tôi lại bay sang Burma. Vào những ngày đó, du khách chỉ được phép ở đó bảy ngày. Sau đó bạn phải ra khỏi xứ, và trở lại với một thông hành mới. Tôi đã phải làm như thế đến ba lần. Ba lần bảy ngày tôi tham thiền ở một trung tâm thiền dưới sự hướng dẫn của các đệ tử của ngài U Bha Khin, là một cư sĩ. U Bha Khin là bộ trưởng tài chánh của chính phủ Burma. Oâng có chính sách là chỉ những ai đã qua một khóa tu thiền với ông, mới được phép làm việc với ông. Theo chỗ tôi biết, nhờ chính sách này, mà bộ tài chánh đã làm rất tốt nhiệm vụ của mình.

Từ Burma, tôi quay trở về nhà. Nhưng từ đó trở đi, tôi càng vắng nhà thường hơn. Khi thì tôi tham dự các khóa thiền lúc lại tự mình tổ chức. Đến một lúc, các vị thầy của tôi bảo rằng chính tôi cũng có thể dạy thiền cho nhiều người khác trên trang trại. Chúng tôi nới rộng nhà để xe ra để nhiều người có thể tham dự hơn.

Tôi dự định đến tháng tư, Gerd và tôi sẽ dạy chung một khóa. Gerd đã gửi giấy mời. Anh đã có ý định sẽ dạy yoga cho những người tham dự.

Nhưng bốn tuần trước ngày khai mạc, tôi lại đi về phía nam nước Uùc để tổ chức một khóa thiền khác. Khi tôi trở về, Jeffrey đứng đợi tôi ở nhà ga xe lửa. Tôi hỏi: “Ba con đâu?” Nó trả lời: “Có lá thư đây”.

Tôi không tin những điều xảy ra trước mắt là sự thực. Trong thư, Gerd bảo là anh phải ra đi. Anh tin rằng tôi sẽ tiến xa hơn trong thế giới tâm linh, nếu như không có anh ở bên cạnh.

Ngày nay, tôi thấy rằng anh đã nói đúng. Tôi luôn nghĩ là chúng tôi có thể cùng đi trên một con đường với nhau, và đúng, chúng tôi cũng đã đi với nhau một đoạn đường khá dài. Nhưng anh không thể dâng hiến tất cả cho con đường đạo như tôi. Lúc đó, tôi chỉ biết sợ hãi và giận dữ. Vì tôi phải làm gì đây với một trang trại mênh mông, hai mươi lăm con ngựa, máy móc -tất cả những của cải, tài sản của chúng tôi. Gerd không mang theo một thứ gì. Anh chỉ ra đi với chiếc balô trên lưng.

Có thể cuộc sống ở thôn quê quá nhàn rỗi đối với anh. Chúng tôi đã xây dựng nên cơ ngơi ở đây, đã đổ bao mồ hôi để tất cả được như ngày nay. Tất cả đã vào nền nếp, không cần phải thay đổi gì, không cần phải làm gì thêm nữa. Có lẽ đó là lý do đã khiến Gerd không còn tìm thấy hứng thú ở lại nơi đây. Anh đã từng và vẫn còn đến ngày nay, mang tinh thần của người khai hoang. Chúng tôi đã sống trên trang trại này tổng cộng được mười bốn năm.

Đứng ở sân ga, với lá thư trong tay, ngay trong những giây phút đó tôi đã thấy rõ ràng tôi không thể tự mình điều khiển trang trại. Và thực tế điều đó đã nhanh chóng được chứng minh. Bắt đầu là, tôi không biết sử dụng các máy móc. Thí dụ, tôi không biết sửa máy bơm để bơm nước từ ngoài suối vào nhà.

Jeffrey thì đi học ở Brisbane. Cuối tuần con tôi cũng về để giúp tôi, nhưng nó không quen với công việc ở trang trại, nên rất khó nhọc cho nó.

Tôi quyết định bán trang trại. Nhưng cũng không phải là việc dễ làm ở thời điểm đó. Người ta không mua bất động sản vì kinh tế đang gặp khó khăn. Không ai có tiền nhiều.

Tôi bèn bán trước đàn ngựa. Cũng may là có người mua ngay. Nhưng bạn cũng phải biết cách chuyên chở ngựa đi. Tôi chỉ biết cách làm trên lý thuyết, còn thực tế Gerd là người luôn đảm trách những việc này. Kết quả là tôi đã bị ngựa đá. Đúng là khó chuyên chở ngựa trên những chiếc xe kéo.

Sau đó tôi bán những thứ tài sản giá trị khác với giá rẻ, để có thể thanh toán mọi thứ nhanh chóng. Những gì không bán được, tôi vứt đi. Trong lúc hỗn độn đó, tôi đã vứt đi những giấy tờ mà sau này tôi rất cần.

Cuối cùng có một nhóm người thích đời sống thiên nhiên, đã tụ lại thành câu lạc bộ. Câu lạc bộ này muốn mua lại trang trại của tôi -với một số tiền đặt cọc. Tôi phải làm hợp đồng coi như tôi cũng là một thành viên trong tổ chức, chỉ như thế công việc mua bán mới tạm yên.

Tôi vào ở một tu viện Phật giáo ở Sydney, nơi thầy Phra Khantipalo đang tu. Ở đó có nhà cho các cư sĩ ở. Mỗi hai tuần, tôi phải trở lại trang trại để thu xếp một số công việc ở đó. Đó là điều không thể tránh khỏi, vì các thành viên câu lạc bộ không biết điều hành công việc ở trang trại. Tuy họ thích trở về sống với thiên nhiên, nhưng họ không muốn phải bỏ công chăm sóc thiên nhiên. Vì thế nhiều cây trái vườn tược bị hư hỏng, kể cả vườn hồng tuyệt đẹp của chúng tôi.

Thầy Phra Khantipalo nhờ tôi giúp trong việc thuyết pháp. Lần đầu tiên tôi giảng pháp một mình ở trang trại -trong căn nhà để xe mà tôi và Gerd đã sửa rộng ra. Có khoảng mười người đến dự, tôi hướng dẫn họ cách tọa thiền. Tôi rất vui mừng vì đã có thể đem lại lợi ích cho người khác.

Gerd có viết thư cho Jeff, báo tin anh đang ở Do Thái. Nhưng anh không dừng chân lại đó lâu. Sau đó, anh đã đi khá nhiều nơi. Giờ anh làm chủ bốn mẫu đất ở Nepal, có hàng trăm cây trồng.

Trong khoảng nữa năm đó, tôi phải đương đầu với nhiều vấn đề, khiến tôi cảm thấy phiền não, khổ đau. Một buổi sáng kia, sau khi thức dậy, mọi việc bỗng vỡ oà ra, như thể trước đây có tấm màn chắn che trước mắt tôi. Thật kỳ quặc, tôi nhận ra chính tôi là người tự làm khổ mình. Tôi chỉ cần nói (hay nghĩ): tất cả mọi việc hiện hữu như chúng phải hiện hữu, nên dù chúng có thế nào cũng được.

Ngay lúc đó, tôi bỏ qua được hết tất cả bao nhiêu chuyện chất chứa trong lòng khiến tôi đau khổ, chán nản. Nói cách khác, tôi đã vượt ra khỏi những tình cảm tiêu cực của mình. Từ đó đến nay, tôi chưa bao giờ tự làm khổ mình như thế nữa. Và tôi đã có thể, cho đến ngày nay, có khả năng giải thích cho người khác hiểu được phương pháp thực hành này. Nhưng còn việc họ có thực hành được không, còn tùy thuộc vào sức mạnh tinh thần của họ.

Cuối cùng tôi cũng bán được trang trại Shalom của mình. Chúng tôi -câu lạc bộ và tôi- cũng được ít tiền. Chí ít thôi, vì chúng tôi bán không được giá. Dầu gì, bao nhiêu lo âu của tôi đều đã qua đi.

Như thế là tôi phải dọn đến Sydney. Thầy Phra Khantipalo muốn xây dựng một tu viện ở trong rừng. Tôi có ít tiền do bán được trang trại, cộng với gia tài của mẹ tôi- người đã mất năm ngoái- để lại. Tôi bỏ hết cả tiền vào việc lập tu viện, Wat Buddha Dhamma. Thầy Phra Khantipalo và tôi, sau nhiều tháng kiếm tìm, đã chọn được một nơi thích hợp ở giữa một công viên quốc gia -bảy mươi hecta, gần bằng diện tích trang trại Shalom.

Thầy Phra Khantipalo làm trụ trì. Tôi coi quản lý, sắp xếp công việc. Và cả hai chúng tôi đều làm nhiệm vụ giảng dạy. Dần dần nhiều dãy nhà được xây lên, trong đó có một thiền đường. Một cái thất (kuti) dễ thương được cất cho tôi trên triền núi. Lần lần có nhiều kuti khác cũng được cất lên dành cho những người thích theo đuổi cuộc sống tâm linh, để tìm được sự an bình cho tâm hồn.

Có khá nhiều người đến ủng hộ để Wat Buddha Dhamma có thể được duy trì. Tất cả mọi người đều đóng góp vào kinh phí xây dựng. Đến nay, tu viện này đã có mặt hơn hai mươi năm rồi. Lúc đầu chỉ có Phra Khantipalo và tôi là thành viên trong hội đồng quản trị. Ngày nay chúng tôi có cả thảy là bốn thành viên. Một trong các đệ tử của tôi, đại diện cho tôi.

Từ đó trở đi, giáo lý của Đức Phật dẫn dắt cuộc đời tôi. Theo giáo lý này, ta cần phải thực hiện bốn điểm chính, như sau:

-Không cho phép những tư tưởng xấu ác chưa dấy khởi được phát khởi -nói cách khác là tránh xa chúng.

-Không duy trì những tư tưởng ác xấu, khi chúng đã dấy khởi -nói cách khác là làm chủ chúng.

-Hãy phát khởi những ý nghĩ thiện chưa dấy khởi -nói cách khác là tìm cách phát khởi các thiện ý.

-Hãy làm lớn mạnh hơn nữa những tư tuởng thiện đã được dấy khởi -nói cách khác là duy trì, phát triển chúng.

Tránh xa, làm chủ, phát khởi, duy trì: đây là cửa ngỏ đưa đến cuộc sống tâm linh. Điều đó có nghĩa là ta phải luôn kiểm soát và làm chủ tư tưởng của ta. Nếu chúng là các tư tưởng xấu ác, tiêu cực, sân hận, bực tức, ta cần phải biết là chúng chỉ mang đến cho ta đau khổ, phiền não. Bằng phương pháp tọa thiền, ta dần thay thế chúng bằng những tư tưởng tìch cực, thương yêu, giúp đỡ.

Nhưng điều này không phải có thể dễ dàng thực hiện ngay. Không đơn giản như thế. Ta cần phải thực hành những phương pháp này. Trong quá trình chuyển đổi, ta cần phải đi từng bước. Phải dần bỏ các tư tưởng tiêu cực, và thay thế chúng bằng những tư tưởng thiện: Hãy nghĩ đến một cánh đồng đầy bông hoa, một mảng âm nhạc ru hồn. Hay bạn có thể nghĩ đến những người bạn thương yêu. Như thế, bạn có thể hướng tâm mình đến những điều có thể đem lại niềm vui cho tâm bạn, tình cảm bạn.

Khi đã thực hiện được những điều này, bạn có thể trở lại với tư tưởng ban đầu và cố gắng chuyển đổi chúng. Nếu bạn thấy bực tức, sân hận với ai, hãy nghĩ đến những tánh tốt khác của họ.

Muốn thấu hiểu được giáo lý của Đức Phật, cũng như trong quá trình phát triển tâm linh, ta cần phải thực hành được những điều trên. Ngay từ lúc chưa có được sự hiểu biết thấu đáo về Phật pháp, tôi vẫn nhận thức được điều đó. Tôi tự biết rằng việc mình tự làm khổ mình là một hành động điên rồ, nhưng hình như ai cũng dễ dàng mắc phải.

Trong những ngày còn sống ở Thượng Hải, ngay sau khi chiến tranh chấm dứt, tôi đã tranh đấu với bản thân, để tận trong thâm tâm, tôi không còn lòng thù hận họ, mà có thể hàn gắn với đất nước Đức với người Đức. Tôi đã nghĩ rằng những tư tưởng hận thù không có lợi ích gì hơn là những đám mây đen che phủ cuộc đời tôi. Sau này tôi tìm thấy những điều tôi đã mơ hồ nghĩ đến được giải thích rõ ràng trong các kinh điển của Đức Phật.

Bốn yếu tố (Tứ Chánh Cần) quan trọng trên nằm trong ba mươi bảy phẩm trợ đạo đưa ta đến Giác Ngộ giải thoát. Không có khóa tu nào, bài giảng nào, mà tôi không lồng vào đó những lời dạy chí thiết này. Một khi bạn đã thực hành nhuần nhuyễn, chúng trở thành thói quen khiến ta không bao giờ để các tư tưởng xấu ác có thể dấy khởi. Ta xa lánh chúng. Không có nghĩa là ta đè nén chúng.

Hiện nay nhiều người lập luận rằng: Ta không nên đè nén gì cả, ta cần phải để mọi thứ trong ta tuôn tràn. Đóù là cách suy nghĩ của nhiều người. Nhưng ở đây không phải là vấn đề của đè nén, mà là xa lánh, tránh xa. Trong mỗi con người đều có cái tốt, cái xấu. Nếu ta chỉ vun trồng cho cái tốt, thì một ngày kia cái xấu sẽ biến mất.

Một khía cạnh quan trọng nữa trong giáo lý của Đức Phật là thái độ xả ly. Con đường đưa đến việc thực hành xả ly nằm trong năm điều sau. Mỗi ngày ta cần quán tưởng về chúng:

– Tôi cũng sẽ bị hoại diệt, không thể trốn tránh điều đó.
– Tôi cũng sẽ bị bịnh hoạn, không thể trốn tránh điều đó.
– Tôi cũng sẽ chết đi, không thể trốn tránh điều đó.
– Tất cả mọi thứ tôi sở hữu, thương yêu, đều sẽ đổi thay, hoại diệt.
– Tôi làm chủ nghiệp của mình, là kẻ thừa hưởng nghiệp do mình tạo ra, dù là tốt hay xấu.

“Tất cả mọi thứ tôi sở hữu, thương yêu đều thay đổi” rất đúng khi áp dụng vào các mối liên hệ cha mẹ, con cái hay vợ chồng. Con cái từ lúc ta sinh chúng ra, chúng đã không ngừng thay đổi. Rồi chúng có thể biến khỏi đời ta bất cứ lúc nào. Các liên hệ giữa những người yêu nhau cũng thế.

Rõ ràng không có ai trong chúng ta nghĩ là con cái hay người ta thương thuộc sở hữu của mình. Tuy nhiên tình cảm ta thì nghĩ như thế về họ, và luôn muốn ràng buộc họ. Vì thế đã có nhiều vấn đề về tình cảm xảy ra trong các gia đình.

Chúng ta muốn điều khiển người thân của mình. Chúng ta nghĩ là mình có thể quyết định việc phát triển của con cái, có thể quyết định những gì con cái mình phải làm hay không nên làm. Chúng ta không những muốn sở hữu con cái hay người thương, mà còn muốn họ phải sống theo ý ta muốn, làm theo những điều ta đòi hỏi, mong đợi ở họ. Nhưng tất cả đều là hoài công.

Chúng ta phải thực tập xả ly nếu ta muốn được sống và thương yêu trong sự tự do. Đức Phật đã nói, thân này không thuộc ta, thì làm sao người khác có thể là ta? Mỗi người tự tạo nghiệp cho mình.

Ở đây tôi muốn giải thích thêm về một phần trong giáo lý của Đức Phật, có liên quan trực tiếp đến tôi -và như tôi biết qua kinh nghiệm- cũng liên quan đến rất nhiều người khác.

Tình yêu cao thượng không đòi hỏi sự sở hữu, mà chỉ có ban phát rộng rãi. Qua thời gian, tôi càng thấm thía với những điều này sâu xa hơn.

Vào năm 1979 tôi quyết định xuất gia. Cho đến thời điểm đó, tôi đã khá từng trải, để nhận thấy rằng tất cả mọi thứ trên cõi này đều không thể mang đến hạnh phúc cho ta. Trong các cuộc hành trình, tôi đã hiểu rằng sự tĩnh lặng, an bình không phải do những thắng cảnh tuyệt vời trên trái đất mang đến cho ta. Chúng chỉ có thể được tìm thấy trong trái tim ta.

Giờ tôi đã sẳn sàng để dâng hiến cuộc đời mình cho lý tưởng cao đẹp nhất.

…………………………………………………………..

Một người Úc có tấm lòng vàng
Nguồn: Thanh Trúc, phóng viên RFA

Robert Costabile là người Úc gốc Italia, có công ăn việc làm và có những hoạt động nhân đạo trong tổ chức từ thiện Westley Mission Victoria ở Australia.

 

Photo courtesy of vietnamnet.vn

Ông chủ Robert Costabile của nhà hàng Lanterns Vietnamese Restaurant đem cơm từ thiện ra tận ngoài đường cho người khuyết tật
Tấm lòng với người nghèo

Ông đến Việt Nam như một du khách để rồi gắn bó với Nha Trang, biến nhà hàng Đèn Lồng, Lanterns Vietnamese Restaurant do ông lập ra và làm chủ, thành phương tiện giúp đỡ người nghèo và trẻ mồ côi tại phố biển thơ mộng này.

Thực tế ở Việt Nam không thiếu những hoạt động xã hội kiểu nhà hàng Lồng Đèn, điển hình như Bếp Ăn Từ Thiện của một nhóm trẻ ở Saigon, cứ mỗi cuối tuần lại nấu những món ăn ngon lành bổ dưỡng cho cô nhi trong các viện mồ côi thành phố. Điều đáng nói trong mục Đời Sống Người Việt Khắp Nơi hôm nay là tấm lòng của một người ngoại quốc đối với những người không cùng chủng tộc cùng màu da với mình:

“Tôi đến Việt Nam lần đầu hồi 2006, đi thăm một trường mẫu giáo ở Nha Trang, cảm thấy yêu thích những đứa bé học trong đó. Năm sau, cũng nhân dịp nghỉ hè, tôi trở lại với ý định nên làm điều gì đó hữu ích cho cộng đồng ở đây.”

Trong chuyến đi Việt Nam lần thứ nhì đó, được một Việt kiều vốn là một linh mục, giới thiệu đến cô nhi viện Hướng Dương trong thành phố Nha Trang, Robert Costabile đã lưu lại viện mồ côi này hai tháng:

“Việt kiều này ở Mỹ về, nhờ thế tôi có thể trò chuyện trao đổi với ông ta và hiểu rõ thân phận các trẻ mồ côi cũng như trẻ con nhà nghèo ở đây hơn.”

Thế rồi ý tưởng lập một nhà hàng nẩy ra trong trí ông, quán ăn Đèn Lồng, Lanterns Vietnamese Restaurant, sẽ là nơi kiếm tiền để lo cái ăn cái mặc và cả chuyện học hành cho cô nhi Việt Nam ở Nha Trang:

“Nhà hàng Lồng Đèn được thành lập năm 2009, rồi trong quá trình hoạt động nhân viên người Việt trong quán đã giúp tôi thực hiện ý định tổ chức những buổi phát cơm miễn phí, gọi là miếng khi đói thôi, cho người lao động trong thành phố.”

Thế là cứ mỗi trưa thứ Hai, thứ Tư và thứ Sáu hàng tuần, quán ăn lồng đèn của ông chủ Costabile không tấp nập vì thực khách mà tấp nập bởi người lao động đến lãnh cơm miễn phí.

Chỉ tiếc một điều, chừng như lòng hào phóng của người đàn ông nước ngoài này đã bị lạm dụng, hãy nghe ông kể:

“Việc phát cơm miễn phí diễn ra rất tốt đẹp, nhưng rồi chuyện xảy đến là đã có những người không thực sự nghèo, không xứng đáng được phục vụ cơm miễn phí, đã tìm cách trở đi trở lại để lấy nhiều hộp cơm trong một lúc như thế.”

Cô Hiền, giáo viên Anh văn, một cộng tác viên đắc lực của ông Robert Costabile trong những công việc từ thiện xã hội của quán ăn Đèn Lồng, xác nhận :

“Đúng, trước đây thì phát cơm cho mọi người từ thứ Hai, thứ Tư, thứ Sáu. Mới đầu rất nhiều người đến lấy, đông quá nên bọn em không biết số người là bao nhiêu cả. Thế rồi bọn em phát hiện ra là có một tốp người, họ thay phiên nhau đến lấy, xong họ đi họ thay quần áo rồi họ quay lại họ lấy tiếp nữa, xong họ mang đến một công trường có thợ làm việc và họ bán lại những hộp cơm đấy với giá mười nghìn một hộp.
Bọn em biết được là nhờ có người chỉ lấy được một hộp mà có người lấy được nhiều hộp, họ ganh nhau họ lên nói cho mình biết.”

Vì lý do đó ba buổi phát cơm hộp miễn phí trong tuần của nhà hàng Đèn Lồng được rút lại chỉ còn một ngày là thứ Hai mỗi tuần mà thôi. Bây giờ tâm điểm của nhà hàng Đèn Lồng là các cô nhi viện trong thành phố Nha Trang:

“Hy vọng của tôi là tiếp tục thuê được mặt bằng của Đèn Lồng trong vòng năm năm tới, để trong ngày rộng tháng dài vẫn có thể cung cấp thực phẩm và trang trải mọi chi phí cần thiết cho các cô nhi viện đó.”
Dạy nghề cho trẻ mồ côi

Một buổi dạy nấu ăn tại nhà hàng. Photo courtesy of in2vietnam.com
Lợi nhuận từ của hàng Đèn Lồng của ông Robert Costabile được rót cho bảy cơ sở nuôi dạy trẻ mồ côi hoặc của tư nhân hoặc của chùa hay nhà thờ. Đó là Nhà Tình Thương Hướng Dương của nhà thờ Nha Trang, Mái Ấm Anh Đào, Chùa Lộc Thọ, Nhà Tình Thương Tín Thác, Chùa Kim Sơn, Chùa Thanh Sơn, Mái Ấm Nhân Ái.

Theo lời ông Costabile, nhà hàng Đèn Lồng có hẳn một chương trình từ thiện được giới thiệu với thực khách trong và ngoài nước. Du khách nào quan tâm và có nhã ý muốn đi thăm những cơ sở ấy thì sẽ được cô Hiền, phụ tá của ông Costabile, hướng dẫn đến tận nơi.

Thanh Trúc mời quí vị đi cùng hai du khách người Anh, ghé thăm cô nhi viện Lộc Thọ trong chùa Lộc Thọ, nơi đang nuôi dạy mấy chục cô nhi và trẻ con nhà nghèo đang được nhà hàng Đèn Lồng giúp đỡ.

Theo William, chưa từng đến một cô nhi viện bao giờ, hôm nay anh có mặt tại chùa Lộc Thọ vì nghe nói đến việc làm của ông Costabile và nhà hàng Đèn Lồng. Quả thật anh đã thấy các em nhỏ ở đây rất ngoan, lễ phép và sạch sẽ. Điều khiến anh băn khoăn là nhiều em còn nhỏ quá trong lúc chỉ vài đứa lớn mà thôi, không hiểu sau khi học hết cấp Một và Cấp Hai thì các cháu có còn được giúp đỡ tiếp hay không, bởi vì nuôi dạy một đứa trẻ đến đầu đến đũa không phải chuyện đơn giản.

Đối với Rosie, điểm khiến cô chú ý nhất là khung cảnh thanh thoát và môi trường trong lành của chùa Lộc Thọ.

Nơi này mở ra cho tôi một khuôn mặt khác của đời sống, lên tới đây người ta có cảm giác an bình và vui vô cùng, Rosie thổ lộ, nhất là khi thấy sự chăm sóc chu đáo, phòng ốc khang trang, các em nhỏ thật sinh động và đáng yêu. Nếu có lúc nào trong đời bạn tỏ ra băn khoăn không biết bắt đầu từ đâu và làm gì cho xứng đáng, Rosie nói, bạn có thể thử đến với trẻ mồ côi như ông Costabile và quán ăn Đèn Lồng được đấy.

Trung là một đứa trẻ xuất thân từ Lộc Thọ, năm mười lăm tuổi em được ông Costabile đưa về học nghề ở nhà hàng Đèn Lồng. Sau ba tháng học việc, Trung trở thanh phụ bếp buổi sáng:

“Bắt đầu thì em được trả lương một triệu ba một tháng, xong rồi lên một triệu rưỡi, có khi cộng tiền tip vô được hơn hai triệu mấy. Em làm phụ bếp được một năm rồi. Em làm tới 2 giờ thì em học Anh văn với chị Hiền cũng là nhân viên trong nhà hàng. Học tới bốn giờ thì em về, 5 giờ em bắt đầu đi học phổ cập buổi tối. Em muốn trở thành một đầu bếp giỏi, tại vì em rất hứng thú rất đam mê nghề bếp.”

Đó là con đường Trung tự vạch ra cho mình khi tiếp nhận sự giúp đỡ của nhà hàng Đèn Lồng, ông chủ người Úc và cô Hiền, cô giáo dạy anh văn của Trung cũng như các em khác ở nhà hàng Đèn Lồng.
Bếp ăn từ thiện

Chùa Thanh Sơn ở Nha Trang là nơi cưu mang tất cả một trăm lẻ bảy em mồ côi. Ni sư Sơn ở đây cho biết:

Nhà hàng Đèn Lồng phục vụ bữa trưa miễn phí cho người nghèo. Hình: fb của nhà hàng
“Cái này là do cô Hiền liên hệ trực tiếp với chùa. Cô Hiền nhiệt tình lắm, gọi điện tới hỏi thăm xem là các em cần những khoản tiền gì, gởi cho ấy rồi cô hạch toán, báo cáo rồi cô ấy chi. Tiền là của ông ngoại quốc, người ta ở xa mà người ta biết tới và giúp đỡ chùa như vậy là rất quí.

Ông ấy tên Robert, cũng có tới chùa nhiều lần, ông đi thăm hỏi mấy em rồi xem chỗ ăn chỗ ở rồi thăm nhà bếp xem nấu ăn làm sao. Bắt đầu năm nay thì ông ấy giúp đóng khoản học phí cho mấy em Cấp Hai. Có hai em đại học nhưng một em thì khoản học phí cao quá nên là ông chỉ chi được khoảng một nửa thôi.”

Như vậy nếu có về Nha Trang, quí vị sẽ mục kích tận mắt cảnh phục vụ cơm hộp cho người lao động nghèo của nhà hàng Đèn Lồng mỗi ngày thứ Hai, và nếu quí vị muốn thì cô Hiền, người phụ trách mảng từ thiện của nhà hàng, sẽ thay ông Costabile đưa quí vị đi thăm những viện mồ côi có liên hệ với quán Đèn Lồng.

Vì công việc chính, cộng thêm các công tác từ thiện của Wesley Mission Victoria chuyên chăm sóc người già, người mất trí, người neo đơn ở Australia, ông Robert chỉ có mặt tại nhà hàng Lồng Đèn bốn tháng trong một năm. Tiền bạc kiếm được ở Việt Nam thì nên trả lại cho người ở đây bằng cách này cách khác:

“Tôi không phải là nhà kinh doanh hay nhà đầu tư, tôi chỉ giản dị là tôi. Tôi thích đất nước xinh đẹp này và tôi muốn phục vụ những người nghèo ở nơi mà tôi yêu quí. Tôi có những người cộng tác thật giỏi và thật tốt trong nhà hàng. Tôi cũng mong sao cho những em cô nhi mà tôi đang giúp có thể học lên tới đại học hết. Còn trung bình cứ mỗi thứ Hai thì khoảng một trăm đến hai trăm hộp cơm miễn phí được phát không cho người lao động nghèo. Cũng là niềm vui nhỏ phải không, vì họ vừa tiết kiệm được một khoản tiền vừa có bữa ăn ngon lành nữa.”

Ông Robert Costabile đắc ý khoe với Thanh Trúc.

……………………………………..

Add a Comment

Your email address will not be published. Required fields are marked *

Web
Analytics