17/08/2013: 1.Con cái và cha mẹ(Ajahn Jayasaro)-2.Ý nghĩa Vô Thường trong mùa Vu Lan(Hoàng Phong)-3.Người Mẹ(David Farewell)

17/08: 1.Con cái và cha mẹ(Ajahn Jayasaro)-2.Ý nghĩa Vô Thường trong mùa Vu Lan(Hoàng Phong)-3.Người Mẹ(David Farewell)
Category: Như là Ngụ ngôn .. Những nụ cười ..
Posted by: Tbl Đọc: 7026 lần

Fwd: CON CÁI VÀ CHA MẸ
Hau Nguyen to:…,me
**
CON CÁI VÀ CHA MẸ

Ajahn Jayasaro

Diệu Liên Lý Thu Linh chuyển ngữ

Tỳ Kheo Jayasaro (thế danh: Shaun Chiverton) sinh năm 1958, tại Anh Quốc. Năm 1979, ông tham dự khóa thiền tích cực với Sư Sumedho.Tháng 9, năm đó ông đến Thiền viện Wat Pa Pong ở miền Đông Bắc Thái Lan, nơi ông đã thọ giới xuất gia với vị Thiền sư trưởng lão…

… nổi tiếng, ngài Ajahn Chah và tu học theo Truyền Thống Forest Tradition, là một truyền thống thuộc Phật giáo Nguyên Thủy.
>
> Nhân mùa Vu Lan, chúng tôi xin trích dịch một phần nhỏ trong quyển Daughters & Sons, của Sư Ajahn Jayasaro để tặng các bậc cha mẹ và con cái Việt Nam.
***
> Tôi nghĩ hẳn là mẹ tôi đã phải chịu bao khó nhọc khi mang thai tôi. Lúc đầu bà bị hành buồn nôn mỗi sáng, thời gian sau thì đi đứng trở nên khó khăn. Mọi chuyển động đều đau đớn và không thuận lợi. Nhưng mẹ tôi đã chấp nhận cái khổ này vì bà tin rằng có điều gì đó rất đáng công, và điều gì đó chính là tôi. Khi còn nhỏ, việc gì tôi cũng phải nhờ đến cha mẹ, vậy mà không hiểu sao tôi coi chuyện đó là bình thường –phải đâu bổn phận của họ là phải cung cấp, cưu mang, còn tôi chỉ có quyền nhận? Sau này, tôi có duyên được tu tập theo Phật giáo để phát triển một nơi nương tựa thực sự ở bên trong, vì cha mẹ tôi đã tạo cho tôi một chỗ nương tựa bền vững, đáng tin cậy ở bên ngoài khi tôi còn trẻ. Họ đã thiết lập cho tôi một nền tảng vững bền để tôi có thể toàn tâm toàn trí tu tập, chiến đấu với uế nhiễm.
>
> Năm 20 tuổi, tôi đến Thái Lan để thọ giới xuất gia. Cha mẹ tôi không phản đối vì họ muốn cho con trai có thể sống theo ý nó muốn và được hạnh phúc. Cha mẹ tôi đã chấp nhận việc này và buông bỏ tất cả mọi kỳ vọng họ đã đặt vào tôi. Năm ngoái, mẹ tôi đã thú nhận rằng ngày tôi ra đi là ngày buồn nhất trong đời của mẹ. Nghe vậy tôi rất xúc động. Điều gây ấn tượng ở tôi là mẹ đã rất chịu đựng và che giấu nỗi khổ đau này suốt hai mươi năm vì mẹ không muốn tôi phải bức rức vì chuyện này.
>
> Sau khi đã trở thành một tu sĩ, đôi khi tôi không thể không tự trách mình. Khi còn sống bên cạnh mẹ cha, mỗi ngày tôi đều có cơ hội để làm điều gì đó, hầu đáp lại chút tình thương mà họ đã dành cho tôi, nhưng tôi hầu như chẳng làm gì cả. Giờ tôi ước muốn bày tỏ lòng biết ơn bằng trăm ngàn cách thì lại không thể vì tôi đã là tu sĩ và sống cách xa họ hàng ngàn dặm. Thật đáng trách. Tôi chỉ còn có thể làm những gì mà các vị tu sĩ vẫn làm hơn hai ngàn năm nay, là rải tâm từ đến cho họ mỗi ngày.
>
> Ở Thái Lan chúng tôi thường nghĩ tưởng đến ‘boon khoon’ (công ơn) cha mẹ. Boon Khoon là niềm tin rằng mỗi khi ta nhận được sự giúp đỡ, lòng tử tế của ai đó –nhất là khi được ban tặng- là chúng ta đã mang một cái ơn. Thiện nhân là người biết trọng ơn nghĩa, và ơn nghĩa sâu dày nhất trong tất cả mọi ơn nghĩa là ơn nghĩa đối với cha mẹ. Đức Phật đã dạy chúng ta phát triển lòng biết ơn sâu sắc đến với cha mẹ, và ý hướng đáp trả ơn cha mẹ bằng những phương cách tốt nhất mà chúng ta có thể thực hiện.
>
> Lúc nhỏ, tôi đã không được dạy dỗ về các giá trị này. Dĩ nhiên, trong nền văn hóa phương Tây cũng có tình thương yêu, gắn bó giữa cha mẹ và con cái, nhưng nói chung sự quan tâm, lòng biết ơn lẫn nhau thường ít được coi trọng. Trong khi các giá trị khác như là tự do cá nhân, tính tự lập thì lại được chú trọng hơn. Tình cảm thâm sâu, gắn bó giữa cha mẹ và con cái có thể cũng được nhiều người cảm nhận, nhưng nó không được truyền thông rộng rải như một đạo lý chung trong xã hội như trong văn hóa Phật giáo, thí dụ như ở Thái Lan.
>
> Việc chúng ta phải coi trọng công ơn cha mẹ có thể được tìm thấy trong giáo lý của Đức Phật về Chánh kiến trong đời sống thế tục, nền tảng giúp ta hiểu điều này điều nọ trong cuộc sống. Trong kinh điển Pali, Đức Phật dạy rằng ta phải tin rằng cha ta là thật, mẹ ta là thật. Có thể bạn sẽ bỡ ngỡ khi đọc điều này phải không? Tại sao Đức Phật phải dạy chúng ta một điều quá hiển nhiên? Có ai không biết rằng mình được sinh ra trong cõi đời này là vì cha mẹ mình thực sự có?
>
> Chúng ta cần phải hiểu rằng những lời dạy đó chỉ là ẩn dụ thôi. Điều Đức Phật muốn dạy là chúng ta cần phải biết rằng có một ý nghĩa đặc biệt trong quan hệ giữa cha mẹ và con cái, một ý nghĩa mà ta phải chấp nhận và tôn trọng. Mối liên hệ giữa cha mẹ và con cái thật sâu sắc và huyền bí. Đức Phật dạy rằng không có nghiệp báo nào nặng hơn hành động giết cha hay mẹ. Trong từ ngữ Pali đó làanantariya kamma –nghiệp này nặng nề đến nỗi người gây nghiệp không thể nào tránh khỏi những hậu quả gớm ghê, dầu người đó có thật tâm hối hận đến mức độ nào. Như thế khi Angulimala có thể trở thành một vị A-la-hán dầu đã giết 999 người, thì điều đó sẽ không thể xảy ra nếu ông giết chỉ một người, mà người đó là cha hay mẹ ông.
>
> Đức Phật không dạy về mối liên hệ thâm sâu này như là một phương tiện thiện xảo để quảng bá các giá trị trong đời sống gia đình. Nhưng đó là một chân lý vượt thời gian mà Ngài đã khám phá ra và sau đó truyền dạy lại vì lợi ích của chúng sanh. Giáo lý quan trọng đó dạy rằng mối liên hệ giữa cha mẹ và con cái rất sâu dày và có thể đã diễn ra qua nhiều kiếp sống. Do đó, chúng ta phải chấp nhận, tôn trọng, và gìn giữ mối liên hệ đó.
>
> Tóm lại, có thể nói rằng được sinh ra trong kiếp này là để chúng ta tiếp tục ‘bổn phận còn dang dở’ đối với mẹ cha. Có khi công việc còn dang dở này được thể hiện ra một cách không tốt đẹp, như khi đứa bé bị cha mẹ bỏ rơi, hay bị cha mẹ bạo hành thân xác hay tâm hồn. Có những hoàn cảnh như thế, và dường như ngày càng nhiều hơn. Nhưng những điều tệ hại mà cha mẹ có thể mang đến cho con cái như thế cũng không xóa bỏ được mối liên hệ thâm sâu này. Kiếp sống này chỉ như là một cảnh trong vở tuồng nhân sinh dài dẵng, chúng ta không biết điều gì đã xảy ra trong những kiếp quá khứ. Sống trong một xã hội nhân ái, dĩ nhiên chúng ta phải làm mọi cách để bảo vệ trẻ em khỏi bị xâm phạm.
>
> Chúng ta phải tỏ rõ việc không thể chấp nhận những điều đó, và phải đối xử với các bậc cha mẹ phạm tội này đúng theo quy luật xã hội hiện hành. Nhưng đồng thời chúng ta cũng phải bảo vệ tâm khỏi sự sân hận và thất vọng bằng cách tự nhắc nhở rằng chúng ta chỉ thấy một phân cảnh ngắn của một vở trường kịch, mà phần lớn đều xa tầm mắt nhìn của ta. Quán chiếu dựa trên chân lý này giúp nạn nhân của những việc bạo hành, xâm phạm có thể tìm được phương cách để tha thứ cho những người có liên quan. May thay, có rất ít các cha mẹ hoàn toàn nhẫn tâm với con cái. Phần đông, như các kinh điển đã nói, cha mẹ đều như các đấng Phạm Thiên đối với con cái, với tình thương yêu không lay chuyển, với tâm từ bi và niềm hoan hỷ. Trong một số kinh, Đức Phật đã dạy chúng ta làm thế nào để đáp trả tấm lòng trời biển của cha mẹ. . . .
>
> Đức Phật thuyết rằng nếu có người muốn trả ơn cha mẹ bằng cách cõng cả hai lên vai, cả trăm năm, tận tụy phụng dưỡng họ, dầu họ có tiểu tiện trên vai; hoặc dâng tặng cho cha mẹ bao của cải, mang đến cho cha mẹ bao chức quyền, địa vị cao sang –dầu người con có thể làm tất cả những điều này cho cha mẹ, người đó vẫn chưa thể bù đắp cho những gì mà cha mẹ đã làm cho họ.
>
> Tuy nhiên, nếu cha mẹ không có hoặc ít có lòng tin vào Phật pháp, thì người con có thể khơi dậy lòng tin đó nơi cha mẹ, hoặc nếu cha mẹ không biết tuân giữ giới hoặc trì giới không nghiêm mật mà người con có thể giúp cha mẹ chuyển đổi, sống đạo đức: thí dụ người con có thể giúp cha mẹ keo kiệt tìm được niềm vui trong việc bố thí, giúp đỡ người khác hay giúp cha mẹ phát triển trí tuệ để chiến thắng tâm uế nhiễu, chấm dứt khổ đau, thì người con đó đã hoàn thành được những nhiệm vụ được coi là thực sự trả được công ơn mà người đó đã mang đối với cha mẹ. . . .Cách hành xử của con cái đối với cha mẹ thay đổi theo từng gia đình, vì điều đó tùy thuộc vào nhiều yếu tố; thí dụ như số con cái trong gia đình, độ tuổi của con cái; con cái còn sống trong gia đình hay đã ra riêng, ở gần hay ở xa cha mẹ, vân vân.
>
> Khi cha mẹ già yếu, người con có hiếu phải chăm sóc họ. Nếu thực sự điều này không khả thi (chứ không phải là viện lý do), thì họ phải thăm viếng cha mẹ thường xuyên, hay chí ít cũng phải gọi điện thoại hay viết thư thăm hỏi cha mẹ đều đặn, cũng như thông tin cho cha mẹ biết cuộc sống của mình thế nào. Biết rằng con cái vẫn tưởng nhớ, quan tâm đến mình là liều thuốc có thể mang đến cho cha mẹ tâm bình an, liều thuốc này còn hiệu lực hơn cả các loại thuốc do bác sĩ kê toa. Chúng ta phải giúp đỡ cha mẹ trong tất cả khả năng của mình. Khi cha mẹ đau yếu, nếu ta có thể giúp tiền chữa bệnh thì quá tốt, nhưng nếu ta nghèo, không thể làm điều đó thì hãy mang đến cho cha mẹ những gì ta có –thí dụ như thời gian. Hãy ngồi bên họ, đọc cho họ nghe hay chăm sóc họ theo cách tốt nhất mà chúng ta có thể làm (thí dụ tắm rửa, làm vệ sinh, đút ăn hay bóp tay bóp chân cho họ) –những việc làm này đối với cha mẹ đôi khi còn giá trị hơn tiền bạc hay bất cứ món quà vật chất nào mà ta dành tặng cho họ.
>
> Diệu Liên Lý Thu Linh
> Vu Lan 2013

……………………………………………
CẢM NGHĨ VỀ Ý NGHĨA CỦA VÔ THƯỜNG NHÂN MÙA VU LAN

Hoàng Phong

Nguồn:thuvienhoasen.com – 09/03/2012 – Hình NN sưu tầm:Tượng Phật Thích-Ca tại Nha Trang-

Như những vì sao, những con ruồi đang bay hay ánh lửa của một ngọn đèn dầu,
Như một ảo giác ma thuật, một giọt sương mai hay một bọt bong bóng,
Một giấc mơ, một tia chớp hay một áng mây bay,
Đấy là cách phải nhìn vào mọi hiện tượng tạo tác từ những điều kiện trói buộc.
Lời Phật dạy
Kinh Kim Cương
(Vajracchedika prajnaparamita-sutra)

Thiền sư Đạo Nguyên (1200-1252) là một trong những nhà tư tưởng lớn nhất của nước Nhật. Mồ côi cha từ năm hai tuổi, đến năm bảy tuổi thì mẹ lại mất. Khi nhìn thấy xác mẹ được đưa lên giàn hỏa ông đã khóc, thế nhưng có thể là ông đã không khóc như một đứa bé. Nhìn thân xác mẹ cháy trong lửa đỏ và những đám khói bốc lên, có lẽ ông đã hình dung ra cho mình một con đường. Được một người chú đem về nuôi, thế nhưng năm mười hai tuổi thì ông bỏ nhà trốn vào vùng núi Hiei đi tìm một người chú khác là một nhà sư sống trong vùng này, để xin được vào chùa.

Trong Đại Bát Niết Bàn Kinh (Mahaparinirvana-sutra) có một câu như sau: “Trong số tất cả các dấu chân, chỉ có dấu chân voi là to lớn nhất. Trong số tất cả những thứ suy tư, chỉ có sự suy tư về vô thường là quan trọng nhất”. Tất cả mọi sự vật đều phù du. Tất cả các thứ cấu hợp đều tan rã. Tất cả những gì sinh ra đều sẽ đi đến cái chết, và cái chết thì cũng chỉ là một sự chuyển hóa trong khung cảnh của vô thường.

Kinh sách thường nêu lên bốn dấu ấn (caturlaksana) căn bản của toàn bộ giáo huấn Phật Giáo, đấy là: tất cả mọi hiện tượng cấu hợp đều vô thường, tất cả những gì hư cấu đều khổ đau, tất cả mọi hiện tượng đều không có cái ngã, niết-bàn là an bình. Dấu ấn thứ nhất là vô thường và đấy cũng chính là cái nhìn của Phật Giáo vào thế giới. Cái nhìn ấy giúp chúng ta nhận ra sự chuyển động thường xuyên và cùng khắp của mọi hiện tượng trong thế giới, và thật ra thì thế giới cũng chỉ gồm toàn là hiện tượng. Mọi hiện tượng đều xô đẩy nhau, níu kéo nhau để cùng chuyển động và xoay vần trong vòng sinh diệt.

Quá trình chuyển động, hủy hoại và sinh thành đó của mọi hiện tượng thường xuyên tiếp diễn bên ngoài thế giới và cả bên trong tâm thức của mỗi con người. Sáng sớm mở cửa nhìn ra ngoài trời, mây vẫn bay, chim vẫn hót, bước ra đường, phố chợ vẫn ồn ào. Thế giới dường như vẫn còn nguyên, vẫn giống như ngày hôm qua. Thế nhưng thật ra thì mỗi chúng ta đã lật quyển nhật ký của đời mình sang một trang mới, và pho sách lịch sử khổng lồ của vũ trụ cũng đã sang trang. Một đêm dài hay cả một kiếp người cũng chỉ như một dấu phẩy hay một dấu chấm trên dòng chữ bất tận của vô thường.

Ra đường trông thấy một cô gái thật đẹp, thế nhưng bước thêm vài bước nữa thì chúng ta cũng có thể bắt gặp một bà lão lưng còm, da nhăn và tóc bạc. Vô thường đôi khi thật lộ liễu nhưng lắm khi cũng rất kín đáo, hay ít ra cũng vượt khỏi sự suy nghĩ thường tình của chúng ta. Phật Giáo phân chia vô thường làm hai thể loại khác nhau: vô thường thô thiển và vô thường tinh tế. Vô thường thô thiển là đôi má nhăn nheo trên gương mặt của một bà lão, là tiếng nổ lách tách của những thanh củi đang cháy trên thân xác người mẹ của Đạo Nguyên, hay những đám khói đen bốc lên từ giàn hỏa. Vô thường thô thiển cũng có thể rất bình dị và yên lặng như một bọt bong bóng ở thềm sân vào một buổi sáng trời mưa.

Vô thường tinh tế thì giống như một vì sao giữa trời. Hình ảnh và vị trí của ngôi sao Bắc Đẩu mà chúng ta trông thấy hôm nay là hình ảnh và vị trí của nó cách đây đã 430 năm ánh sáng. Vô thường tinh tế cũng là con ruồi đang vờn bay trước mặt, một giấc mơ đêm qua, một thoáng xúc cảm trong tim hay một niềm hạnh phúc trong lòng. Cái vô thường tinh tế cũng là những biến đổi trong từng đơn vị của tri thức trên dòng chảy của nó. Mỗi đơn vị vi tế ấy tiếp nhận các vết hằn đủ loại của nghiệp để nhào nặn chúng, tiêu hóa chúng và để chuyển sang cho một đơn vị khác. Những đơn vị ấy của dòng tri thức nối tiếp nhau để đưa chúng ta phiêu du trong giấc mơ đêm qua và trong những giấc mơ khác vào những đêm hôm trước và cả trong cơn lốc của thế giới hiện tượng đang diễn biến chung quanh chúng ta hôm nay.

Riêng vô thường hay là dấu ấn thứ nhất trong số bốn dấu ấn của giáo huấn Phật Giáo còn được phân chia thành bốn dấu ấn thứ yếu là: tất cả những gì kết hợp sẽ xa lìa, tất cả những gì sinh ra đều sẽ chết, tất cả những gì được kiến tạo sẽ sụp đổ, tất cả những gì kết hợp rồi sẽ tan rã. Tất cả bốn dấu ấn này đều là những nguyên nhân cội rễ mang lại khổ đau. Vì thế có thể bảo rằng vô thường chính là khổ đau, và nếu vô thường là bản chất của mọi hiện tượng thì khổ đau cũng sẽ cùng với mọi hiện tượng và cả vô thường bàng bạc và chuyển động trong thế giới, trong từng đơn vị vi tế của dòng tri thức cho đến từng tế bào và cả trong tâm thức của mỗi con người.

Khổ đau lại được kinh sách chia làm ba thể loại: khổ đau của khổ đau (dukkha dukkha), khổ đau vì vô thường (viparinama dukkhata) và khổ đau liên quan đến thể dạng trói buộc của sự hiện hữu (samskaradukkhata). Khổ đau của khổ đau là những khổ đau lộ liễu nhất và thô thiển nhất: sinh lão bệnh tử và phải kết hợp với những gì mà mình không muốn. Khổ đau tinh tế nhất và khó nhận thấy nhất là khổ đau của sự hiện hữu, đấy là khổ đau vì phải hình thành trong thể dạng trói buộc tạo ra bởi tác động của nghiệp, một hình thức lo âu mang tính cách hiện sinh hay là một sự bất toại nguyện sâu xa, thường xuyên và ẩn kín về sự hiện hữu của chính mình trong thế giới luân hồi (samsara), nói một cách cụ thể hơn thì đấy là cái khổ đau của sự biến động thường xuyên của năm thứ cấu hợp còn gọi là ngũ uẩn tạo ra một cá thể.

Khổ đau vì vô thường được xếp vào thể loại thứ hai tức là nằm vào giữa hai thể loại trên đây, đấy là: phải xa lìa những gì mà mình yêu thích và không chiếm hữu hay thực hiện được những gì mà mình thèm muốn. Chúng ta muốn được trẻ mãi, muốn giữ mãi khả năng tinh thần cũng như sự linh hoạt của thể xác, muốn những người thân sống mãi và lúc nào cũng yêu thương mình. Thế nhưng tất cả đều sẽ ra đi, tất cả đều xa lìa, tất cả đều đổ vỡ. Khi ôm hôn một đứa bé hay ẳm một hài nhi vào lòng và đồng thời nếu chúng ta cũng ý thức được rằng rồi đây chúng cũng sẽ phải đau yếu và già nua thì chúng ta lại càng cảm thấy yêu thương chúng hơn và siết chặt chúng hơn vào lòng mình. Khổ đau của vô thường không lộ liễu như khổ đau của khổ đau thế nhưng nó cũng không đến nỗi quá khó để nắm bắt như khổ đau của sự hiện hữu. Tuy nhiên không mấy khi chúng ta ý thức được những thứ khổ đau ấy một cách thật minh bạch, đấy chẳng qua là vì thông thường chúng ta không chấp nhận hoặc không nhìn thẳng vào mặt loại khổ đau này.

Khổ đau của khổ đau là những gì không lẫn tránh được, thật vậy nào chúng ta có tránh khỏi được sinh, lão, bệnh, tử và những gì mà mình không thích đâu. Chúng ta chỉ biết tìm cách làm ngơ hoặc nhẫn nhục chịu đựng những thứ khổ đau ấy. Do đó khổ đau của khổ đau mang tính cách “thụ động” một cách khá rõ rệt. Đối với khổ đau của sự hiện hữu cũng thế, chúng ta không thể chối bỏ ngũ uẩn của mình được, không thể trút bỏ dễ dàng những lo buồn và ray rứt trong tâm thức mình. Những khổ đau ấy mang tính tự tại nơi chính sự hiện hữu của chúng ta, vì thế nó cũng là những gì rất “thụ động” mà chúng ta phải gánh chịu.

Trái lại khổ đau vì vô thường là thứ khổ đau khuấy động nhất, nguy hiểm nhất vì chính những thứ khổ đau ấy đã tạo ra mọi sự phức tạp và khó khăn cho toàn thể xã hội con người. Tại sao lại như thế? Bởi vì con người luôn tìm cách đương đầu với vô thường, không chấp nhận xa lìa những gì mình yêu thích và phải chiếm hữu cho bằng được những gì mình ham muốn. Con người luôn tìm cách phấn đấu dưới mọi hình thức để chống lại vô thường, thế nhưng sự chống chỏi ấy chỉ mang lại tuyệt vọng mà thôi.

Nếu con người tỏ ra cam phận và nhẫn nhục trước khổ đau của khổ đau và khổ đau vì sự hiện hữu thì lại phản ứng một cách rất hăng say và tích cực trong việc đương đầu với vô thường trên mọi lãnh vực. Đây cũng là mối quan tâm và âu lo chủ yếu nhất trong mọi sinh hoạt của con người, và cũng là nguyên nhân cội rễ sâu kín nhất mang lại khổ đau cho họ.

Đang dọn bàn ăn ta thấy một con ruồi bay trước mặt, ta bèn cầm ngay một chiếc quạt và rình rập nó, chờ lúc nó đậu xuống thành bàn thì đập bẹp nó để bảo vệ lấy cái vô thường của chính mình. Vào một đêm trăng sao vằng vặc, thay vì thả hồn mình vào vũ trụ để hòa nhập với vô thường và sự vận hành của các vì tinh tú, thì ta lại cầu khẩn đủ mọi thứ, chẳng hạn như cầu xin tình yêu của một người nào đó đối với mình luôn được bền vững, và quên mất rằng các vì sao mà mình trông thấy khi ánh sáng của chúng đến được địa cầu thì một số cũng đã nổ tung và biến mất từ lâu rồi. Một buổi sáng trời mưa, khi trông thấy những bọt bong bóng ngoài sân thì thay vì liên tưởng đến cái mong manh của kiếp nhân sinh và nghĩ rằng mình sẽ có một buổi sáng thanh thản để ngắm nhìn những giọt mưa vỡ trên thềm cửa để tìm về với chính mình, thì lại càu nhàu oán trách nếu trời cứ mưa như thế này thì làm sao mà đi dạo phố được!

Những gì vừa nêu trên tuy thật bình dị và tầm thường thế nhưng chúng đã phản ảnh một cách vô cùng kín đáo sự nắm bắt và bám víu vào “cái tôi” và cái “của tôi” mà vị đại sư Buddhadasa từng thuyết giảng. Khi nghe nói đến “cái tôi” hay cái “của tôi” thì phản ứng của chúng ta là nghĩ ngay đến những gì thật quan trọng và nguy hiểm, thế nhưng thực ra thì “cái tôi” và cái “của tôi” ấy là những cảm tính tàng ẩn bên trong những hành động thường nhật thật nhỏ nhặt và bình dị của mình nhằm để chống lại vô thường.

Chúng ta quên rất nhanh một giấc mơ đêm qua. Thật thế không biết bao nhiêu chuyện còn đang chờ đợi mình vào ngày hôm nay. Chỉ toàn là bận rộn. Thế nhưng chúng ta cũng quên rằng tất cả những thứ bận rộn ấy lại cũng chỉ là một giấc mơ. Sự khác biệt giữa một giấc mơ và những thứ bận rộn mà chúng ta gọi là hiện thực thì cũng giản dị thôi. Trong giấc mơ chỉ có phần tri thức vẫn tiếp tục sinh hoạt, ngũ giác “ngủ yên” không tác động hoặc gần như không tác động đến sự vận hành đó của tri thức. Dòng tri thức không bao giờ ngưng nghỉ kể cả trong giấc ngủ hay sau khi chết, những gì tích tụ và lưu giữ trên dòng tri thức luôn tương tác với nhau qua một quá trình biến đổi liên tục. Trong giấc ngủ thì tâm thức được thả lỏng vì không bị những sự cảm nhận của ngũ giác tấn công nó, dòng tri thức nhờ đó sẽ làm hiện ra trong tâm thức những hậu quả phát sinh từ quá trình tương tác của những gì mà nó ghi nhận và lưu giữ được. Có những giấc mơ thật đẹp, thế nhưng cũng có những giấc mơ hãi hùng, tất cả đều phản ảnh những gì mà dòng tri thức đã tồn lưu, nếu nói theo kinh sách thì đấy là những vết hằn của nghiệp được ghi đậm trên dòng tri thức. Chúng hiện lên trong giấc mơ như những “tiền vị” của khổ đau mà chúng ta sẽ nếm được một cách thật sự bằng ngũ giác trong những bối cảnh thích nghi vào một thời điểm nào đó sau này.

Thật ra thì lúc nào chúng ta cũng sống trong một giấc mơ triền miên mà thôi, có lúc chỉ có dòng tri thức hoạt động làm hiện ra những giấc mơ trong khi ngủ, có lúc, chẳng hạn như khi đang thức, thì ngũ giác chen vào để khuấy động dòng tri thức đó, tấn công nó và tạo ra một trận chiến thật hỗn loạn. Những lúc mà trận chiến ấy đang bùng lên và tiếp diễn thì chúng ta gọi đấy là hiện thực. Những người hành thiền thường bảo rằng khi họ tréo chân ngồi xuống trong yên lặng thì đấy là cách giúp họ dẹp yên cuộc chiến ấy.

Bảy tuổi đầu khi nhìn xác mẹ trên giàn hỏa và những đám khói bốc lên thì cuộc chiến ấy cũng đã bùng lên thật mãnh liệt trong lòng cậu bé Eihei, một cuộc chiến chống lại với vô thường. Năm mười hai tuổi thì cậu bé đã hiểu được phải làm thế nào để chiến thắng và dẹp yên cuộc chiến ấy. Cậu bé Eihei sau này chính là vị đại thiền sư Đạo Nguyên.

Mùa Vu Lan 2555

Bures-Sur-Yvette, 02.09.12

Hoang Phong

…………………………………………………….

NGƯỜI MẸ **

David Farewell
Quảng Tịnh Kim Phương dịch

Lập gia đình được hai mươi mốt năm, tôi mới phát hiện ra phương cách để giữ cho tình cảm vợ chồng luôn được mặn nồng.
Gần đây tôi bắt đầu hẹn hò với một phụ nữ.
Thật ra đó là ý của vợ tôi. Một ngày nọ cô ấy thốt lên khiến tôi rất ngạc nhiên: “Anh biết là anh thương bà ta lắm mà. Cuộc đời thật là ngắn ngủi. Anh cần dành thời gian cho những người anh thương yêu.”
“Nhưng anh cũng yêu em mà,” Tôi chống chế:“Em biết, nhưng mà anh cũng yêu bà ta nữa. Có lẽ anh sẽ không tin em, nhưng em nghĩ rằng nếu cả hai người dành cho nhau nhiều thời gian hơn, thì anh và em sẽ gắn bó với nhau hơn.”
Lúc nào Peggy cũng đúng.
Người phụ nữ mà vợ tôi khuyến khích tôi hẹn gặp chính là Mẹ tôi.
Mẹ tôi là một góa phụ đã bảy mươi mốt tuổi, người đã sống một mình kể từ khi Ba tôi mất cách đây mười chín năm. Sau khi Ba tôi qua đời, tôi đã di chuyển 2500 dặm để đến California, nơi tôi bắt đầu xây dựng mái ấm gia đình và lập nghiệp ở đây. Khi tôi quay về lại quê nhà cách đây năm năm, tôi tự hứa với chính mình sẽ dành nhiều thời gian cho Mẹ. Nhưng vì bận rộn công việc và ba đứa con, tôi đã không có thời gian nhiều để thăm Mẹ ngoài những dịp nghỉ lễ hay gặp mặt gia đình.
Mẹ rất là ngạc nhiên và ngờ ngợ khi tôi gọi điện thoại mời Bà đi ăn tối và xem phim. Bà ta hỏi tôi: “Có chuyện gì không con? Con lại sắp đưa các cháu của Mẹ đi đâu sao?” Mẹ tôi là mẫu người hay suy nghĩ tiêu cực – một cú phôn vào nửa đêm hay lời mời đi ăn tối bất ngờ từ đứa con trai trưởng – là báo hiệu điềm không lành.
Tôi trả lời: “Con nghĩ là dành thời gian ở với Mẹ thật là thú vị lắm, chỉ có hai Mẹ con ta thôi.”
Mẹ suy nghĩ về điều đó trong giây lát.
Mẹ tiếp lời: “Mẹ thích lắm, Mẹ thích lắm con à.”
Tôi cảm thấy bồn chồn khi lái xe tới nhà rước Mẹ sau giờ tan sở làm vào ngày Thứ Sáu. Tôi cảm thấy lo lắng cho buổi hẹn – tất cả không có gì khác hơn việc đi ra ngoài ăn tối với Mẹ.
Chúng tôi sẽ nói gì đây? Lỡ như Mẹ không thích nhà hàng mà tôi đã đặt hay bộ phim mà tôi đã chọn?
Nếu như Mẹ không thích cả hai?
Khi tôi lái xe vào nhà Mẹ, tôi cảm thấy Mẹ rất náo nức với buổi hẹn này. Mẹ đang đứng chờ ở cửa và mặc sẵn áo khoác. Mẹ chải tóc quăn. Mẹ đang đứng mỉm cười. Vừa bước vào xe, Mẹ vừa nói: “Mẹ kể với mấy người bạn là Mẹ sẽ đi ra ngoài ăn tối với con khiến họ rất là ngưỡng mộ. Ai cũng bồn chồn không muốn chờ đến ngày mai để nghe kể về buổi hẹn của Mẹ con mình tối nay cả.”
Mẹ con tôi cũng không có đi chỗ sang trọng lắm, chỉ một nơi gần nhà để chúng tôi có thể hàn huyên. Khi đến nơi, Mẹ nắm chặt tay tôi – nửa âu yếm nửa giúp mẹ bước lên bậc thang vào phòng ăn.
Khi chúng tôi ngồi vào bàn, tôi đọc thực đơn cho Mẹ nghe. Mắt Mẹ chỉ có thể đọc được những hình vẽ và chữ lớn. Khi đọc đến nửa thực đơn món ăn khai vị, tôi ngước lên. Mẹ ngồi đối diện, đưa mắt nhìn tôi. Nụ cười sung sướng thoáng hiện trên môi.
“Hồi còn nhỏ Mẹ cũng thường đọc thực đơn,” Mẹ nói.
Tôi hiểu ngay khi nghe Mẹ nói điều này. Từ việc Mẹ chăm sóc tôi và rồi tôi chăm sóc Mẹ, mối quan hệ chăm sóc cho nhau giữa Mẹ con tôi cứ xoay vần.
“Đã đến lúc Mẹ cần được nghỉ ngơi, để con lo lắng và chăm sóc cho Mẹ nhé,” Tôi nói.
Suốt buổi ăn tối Mẹ con tôi nói chuyện vui vẻ. Không có chuyện gì là to tát cả chỉ là hỏi thăm về cuộc sống của nhau. Chúng tôi mãi mê chuyện trò đến trễ giờ cho buổi xem phim. Mẹ tôi cất tiếng khi tôi lái xe đưa Bà về nhà: “Mẹ sẽ hẹn con một lần khác, nhưng lần tới thì để Mẹ trả tiền nhé”. Và tôi đồng ý.
“Hôm nay đi chơi có vui không?” Vợ tôi hỏi liền khi tôi vừa về đến nhà tối hôm đó.
“Thật là tuyệt, tuyệt hơn là anh nghĩ nữa.” Tôi đáp lại.
Cô ta mỉm cười và tôi cũng cười theo.
Kể từ đêm hôm đó tôi và Mẹ thường xuyên gặp nhau hơn. Chúng tôi không đi ra ngoài ăn mỗi tuần nhưng chúng tôi hẹn gặp nhau ít nhất vài lần mỗi tháng. Chúng tôi đi ăn tối và thỉnh thoảng đi xem phim với nhau. Phần lớn thời gian chúng tôi nói chuyện với nhau. Tôi kể cho Mẹ nghe về công việc của tôi ở chỗ làm, rồi thì khoe vợ con mình với Mẹ. Còn Mẹ thì huyên thuyên nói về chuyện gia đình cho tôi nghe không biết chán.
Mẹ cũng kể cho tôi nghe về quá khứ của Bà. Bây giờ thì tôi mới biết được Mẹ đã làm việc như thế nào trong một công xưởng hồi Thế Chiến Thứ Hai. Tôi biết được Ba và Mẹ đã quen nhau ở đó như thế nào, và họ đã nuôi dưỡng tình yêu của mình trong giai đoạn khó khăn ra sao. Khi nghe Mẹ kể chuyện, tôi mới cảm nhận được Ba Mẹ quan trọng đối với tôi như thế nào. Ba Mẹ là chứng tích lịch sử của tôi. Tôi không thể nào biết hết được.
Mẹ con tôi không chỉ nói chuyện về quá khứ mà cả luôn về tương lai. Vì Mẹ có bệnh nên bà rất lo lắng cho những ngày sắp tới. Một tối nọ, Mẹ bảo tôi: “Mẹ còn nhiều thứ cần phải làm lắm. Mẹ cần gần gũi với cháu chắt khi chúng đang trưởng thành. Mẹ không muốn mình bỏ lỡ bất cứ điều gì.”
Giống như nhiều người bạn cùng trang lứa, tôi có khuynh hướng sống vội vả, vật lộn với thời khóa biểu để vừa đi làm vừa có thời gian cho gia đình và xã giao chung quanh. Tôi thường than thời gian sao trôi qua nhanh quá. Những giây phút bên Mẹ đã dạy cho tôi tầm quan trọng của việc sống chậm lại. Cuối cùng tôi mới hiểu thế nào cái cụm từ mà tôi đã nghe cả triệu lần: thời gian quý báu.
Peggy đã nói đúng. Hẹn hò với Mẹ đã giúp cho cuộc hôn nhân của chúng tôi. Điều đó đã giúp tôi làm một người chồng, một người cha tốt và hy vọng là một người con hiếu thảo hơn.
Cám ơn Mẹ. Con yêu Mẹ lắm.

Theo: “The Other Woman”, David Farewell. Chicken Soup for the Woman’s Soul, 1996, Jack Canfield, Mark Victor Hansen, Jennifer Read Hawthorne and Marci Shimoff, Health Communications, Florida, USA.

**Nguồn:Trang nhà Quảng Đức **

………………………………………………….

Add a Comment

Your email address will not be published. Required fields are marked *

tumblr hit counter