20/05/2012: Quà tặng cuộc đời Ch.5&6 Thế giới mới,cách sống mới-Thám hiểm Trung Mỹ bằng xe Jeep-

20/05: Quà tặng cuộc đời Ch.5&6 Thế giới mới,cách sống mới-Thám hiểm Trung Mỹ bằng xe Jeep-
Category: Tôi Tìm Hiểu Đạo Phật
Posted by: Tbl Đọc: 4632 lần

QUÀ TẶNG CUỘC ĐỜI
Tự Truyện Của Một Ni Sư Phật Giáo Người Tây Phương: Ayya Khema
Dịch từ tiếng Đức: Sherab Chodzin Kohn – Dịch từ tiếng Anh: Diệu Liên-Lý Thu Linh

Chương 5
Thế Giới Mới, Cách Sống Mới

“Đây là con của ta, tài sản của ta”, Kẻ ngu tự làm khổ với cách nghĩ đó Ta còn không làm chủ được ta Hỏi làm gì tiền bạc với con ta?
Kinh Pháp Cú…

… – 62

Tháng 6, 1949. Trời lạnh như cắt khi tàu chúng tôi cập bờ cảng San Francisco. San Francisco hình như lúc nào cũng gió, cũng lạnh. Chúng tôi, một ngàn tám trăm người Do Thái đến từ Thượng Hải đứng ở lan can tàu, nước mắt vui mừng, nhưng răng đánh vào nhau lập cập. Dưới bến tàu -giống như mười năm trước ở Luân Đôn- có gần bốn trăm phụ nữ của tổ chức cộng đồng Do Thái đang chờ đón chúng tôi. Họ xếp những chiếc bàn dài dọc theo các nhà kho, phát cho chúng tôi những ly càphê nóng hổi cùng với bánh mì, bánh ngọt. Lại cũng những danh sách cùng các địa chỉ nơi chúng tôi phải đến. (Hình bên:China carved mountains – NN)

Cộng đồng Do Thái lo lắng cho chúng tôi một cách chân tình. Có lẽ vì trước đó những người Do Thái định cư ở Mỹ không tin các thông tin từ Đức. Họ không thể tin là dân họ có thể bị thủ tiêu hàng loạt như thế. Nhưng giờ thì họ đã tin, vì chính quân đội Mỹ đã đến tận các trại tập trung, và chứng kiến những sự thật không thể tưởng tượng nỗi ở các nơi đó.

Chúng tôi nhận được tờ giấy có tên khách sạn chỗ trọ của chúng tôi. Ngoài ra chúng tôi còn được phát bảy mươi đô la một tháng để mua thực phẩm. Lúc đó, số tiền này khá lớn. Họ còn tặng quần áo, vì chúng tôi chỉ có những bộ đồ mặc trên người. Cả cộng đồng quyên góp quần áo mới, cũ cho chúng tôi. Và chúng tôi được quyền chọn lựa.

Quần áo được chất thành đống lớn. Chưa bao giờ tôi thấy quần áo nhiều như thế. Chúng tôi lựa các quần áo ấm. Tôi chọn thêm một cái bóp. Khi mở ra, trong đó có một tờ mười đô. Tôi mang tiền đến trả lại cho người phụ nữ phụ trách việc phát quần áo, nhưng bàø nói, không, người ta cố ý làm như thế. Ai mà được cái bóp thì được luôn tiền. Điều đó làm tôi thấy rất cảm động vì sự quan tâm của họ. Tôi vẫn nhớ lại tất cả với sự biết ơn. Tất cả giống như một phép lạ.

Tôi bắt đầu cuộc tìm kiếm những người thân ở Bá Linh. Tôi đến Hội Chữ Thập Đỏ. Nhưng không có dấu hiệu họ còn sống sót. Tất cả đều đã chết. Lúc ở Thượng Hải, tôi đã thấy nhiều người Do Thái, đặc biệt là những người già rất thù ghét người Đức. Tôi thông cảm hoàn cảnh của họ; người Đức đã cướp đoạt của họ tất cả. Nhưng tôi không thể chia sẻ tình cảm thù hận của họ. Tôi còn nhớ đã nghĩ là chính họ đã hủy hoại cuộc sống, phần đời còn lại quí báu của họ với lòng hận thù.

Đức Phật có nói: “Không có ngọn lửa nào bén bằng lòng tham; không có bàn tay nào xiết chặt hơn hận thù; không có lưới nào rối rắm bằng ảo tưởng, không có ngọn sóng nào cao bằng ngọn sóng ái dục”. Và Đức Phật cũng nói hận thù không thể cởi bỏ hận thù, chỉ có tình thương mới làm được điều ấy. Lúc đó, tôi chưa biết gì về Phật giáo. Tuy nhiên, tôi cũng suy nghĩ giống như thế. Tôi thấy rất rõ là người ta cần hàn gắn và tha thứ. Lúc đầu tôi không làm được điều đó, nhưng sau một thời gian, tôi đã làm được, dầu sau này tôi có nghe người ta kể thêm về những tội ác của người Đức.

Tôi tự nhủ mình: tất cả đã qua. Chỉ có nỗi đau mất cha là không nguôi. Lúc còn ở Thượng Hải, tôi có chụp ảnh ngôi mộ của cha, nhưng cho tới ngày nay tôi không tìm ra được bức ảnh. Vì tôi đi đây đi đó, chuyển đổi chỗ ở quá nhiều, tôi đã để thất lạc bao hình ảnh, giấy tờ.

Cuối cùng chúng tôi đã có mặt ở Mỹ, đất nước tự do. Ở đây, tôi chỉ biết một người bạn học cùng trường ở Los Angeles. Các nhà bảo trợ trong tổ chức Cộng Đồng Người Do Thái khuyên chúng tôi đi qua miền đông, nơi có nhiều cơ hội kiếm việc hơn, nhưng tôi muốn đi Los Angeles. Chúng tôi được tặng vé xe buýt Greyhound đi Los Angeles, khi đến nơi tôi đã nhanh chóng tìm được một căn hộï ở thành phố rộng mênh mông ấy. Nhưng căn hộ của chúng tôi quá nhỏ, chỉ có một phòng, quá chật hẹp đối với một gia đình có con. Tuy nhiên giá mướn không quá mắc, và lại có sẵn đồ đạc. Chúng tôi đâu có của cải gì ngoài một ít tiền dành dụm được ở Thượng Hải, vừa đủ để chúng tôi có thể trả tiền mướn phòng trong một thời gian.

Chồng tôi được nhận làm thợ cắt trong một xưởng may chemise. Lương ít nhưng dầu gì cũng là một nguồn thu nhập ổn định. Tôi chạy tìm một căn nhà nhỏ có thể mua được với một ít tiền đặt cọc, mỗi tháng cũng không phải trả nhiều. Cuối cùng chúng tôi cũng mua được một căn nhà nhỏ, có vườn để con gái nhỏ của chúng tôi, Irene, có chỗ để chạy chơi. Tôi cảm thấy rất hạnh phúc. Lần đầu tiên chúng tôi có một mái nhà, mà không ai có thể đuổi chúng tôi ra được. Nhà chúng tôi có phòng khách, nhà bếp với đủ các thứ đồ điện gia dụng, và nước, không giống như ở Thượng Hải, không phải đi đâu xa mới có. Nhiều năm sau, có lần đi ngang qua căn nhà cũ, khi nhìn thấy nó, tôi đã phải kêu lên: “Trời ơi, sao mà nó nhỏ đến thế!” Nhưng lúc đó, đối với tôi, nó là một phép lạ.

Tôi cũng tìm được việc làm. Không khó lắm, vì tôi đã từng được huấn luyện nghề thư ký văn phòng. Ngân hàng Bank Of America ở Los Angeles mướn tôi ngay lập tức. Sau đó tôi lấy bằng lái xe, tậu xe hơi, một chiếc xe hơi cũ kỹ không còn chạy được bao nhiêu lâu nữa. Tôi còn nhớ nỗi kinh hoàng khi lần đầu tiên lái xe đi làm ở Los Angeles. Ở thời đó, xe cộ ở Los Angeles đã đông đúc. Khi tôi tới được chỗ làm thì chỗ ngồi đã ướt đẩm mồ hôi vì căng thẳng, sợ hãi. Dầu gì, tôi cũng đã tới nơi an toàn.

Không khí làm việc trong ngân hàng rõ ràng là kỳ thị đối với phụ nữ. Các phòng trên lầu đều dành cho nam giới. Mỗi sáng tôi chở Irene đi học mẫu giáo. Cô bé không thích đi học, nhưng không có lựa chọn nào khác. Chồng tôi làm việc ở hãng may chemise chỉ được bảy mươi xu một giờ. Rõ ràng là không thể đủ để nuôi con với đồng lương đó. Vì thế tôi không còn lựa chọn nào khác ngoài phải đi làm. Dầu cho con bịnh, tôi cũng phải có mặt đúng giờ ở chỗ làm, không thể sai trái. Những lúc đó, tôi đều phải nhờ mẹ giúp đỡ. Lúc đó mẹ tôi sống ở San Diego với người chồng thứ hai. Bà phải lái xe hơi hơn một tiếng rưỡi để đến Los Angeles.

Khi công ty của chồng tôi dọn về San Diego, tất cả chúng tôi dọn theo. Con trai tôi, Jeffrey sinh ra ở San Diego. Lúc đó Irene đã được gần mười tuổi. Lúc trước, khi tôi ao ước có thêm đứa con nữa, các bác sĩ bảo điều đó khó thể xảy ra vì tôi bị bướu. Khi tôi mang thai, bác sĩ riêng của tôi không mấy hài lòng, vì điều khó thể xảy ra đã xảy ra. Nhưng cũng may, tôi sinh Jeffrey chỉ trong vòng nửa tiếng, mẹ tròn con vuông không có vấn đề gì cả.

Sau đó tôi phải nghỉ việc. Chồng tôi làm việc cũng đã nhiều lương hơn, vả tôi có hai đứa bé cần được săn sóc. Irene bắt đầu vào trung học, tôi tham gia vào ban phụ huynh học sinh ở trường. Tôi cố gắng làm tròn tất cả mọi bổn phận của mình, giữ gìn nhà cửa, vườn tược sạch sẽ, ngăn nắp. Bận rộn suốt từ sáng đến tối, đó cũng là chuyện bình thường vào hoàn cảnh của tôi. Tôi cảm thấy rất thích thú trong việc chăm sóc vườn tược, cũng như chăm sóc cho sức khỏe của hai con tôi.

Tuy nhiên, dần dà, tôi cảm thấy trong tôi có những triệu chứng lạ, ban đầu là cảm giác hơi đau -một cảm giác rất mơ hồ báo cho tôi biết một điều chẳng lành. Tôi đã có tất cả những gì mình ao ước. Nhưng hình như vẫn còn thiếu một cái gì. Cái gì, chính tự tôi cũng không thể biết được. Tôi chỉ mơ hồ cảm thấy còn thiếu một cái gì đó. Ước muốn tìm kiếm cái gì đó cứ ngày càng lớn mạnh trong tôi, như một căn bịnh nội tâm.

Lúc đó tôi ba mươi bốn tuổi. Bao biến cố đã xảy ra, giờ bỗng nhiên ước mơ được có một cuộc sống bình dị của tôi đã thành hiện thực. Nhưng tôi không thể hình dung mình sẽ tiếp tục sống như thế này mãi. Tất cả sẽ tiếp tục như thế này mãi sao? Tất cả chỉ có vậy thôi sao? Hay là còn có một cái gì cao xa hơn tất cả những ước muốn tầm thường của cuộc sống?

Chắc chắn là phải có cái gì đó nửa! Tôi bắt đầu chúi đầu vào sách -triết học, tâm linh, bất cứ thứ gì tôi có thể khám phá ra. Có nhiều vấn đề tôi chưa thông suốt, nhưng tôi không ngại. Tôi tự nhủ: “Không sao, rồi ta cũng sẽ hiểu được thôi”. Từ đó, tôi chú trọng đến cuộc sống tâm linh hơn; đó là cái tôi muốn tìm hiểu, muốn khám phá.

Với những tư tưởng, tình cảm đó, tôi hoàn toàn cảm thấy cô đơn. Hình như quanh tôi không có ai chia sẻ cùng tôi những suy nghĩ này. Mỗi lần tôi mang vấn đề này ra bàn luận ở gia đình, là chồng tôi nổi giận. “Em còn muốn gì nữa chứ?”, ông ta la lối, giận dữ. Tôi muốn gì? Một cách sống khác. Một cách sống theo con tim của tôi. Nhưng tôi không biết phải làm gì với những điều suy nghĩ của mình.

Một buổi chiều nọ, tôi đến thăm mẹ. Trong phòng khách nhà mẹ có hai chiếc xe đạp bị tháo rời nằm ngỗn ngang. Tôi hỏi: “Mẹ định mở tiệm sửa xe đạp sao?” “Không”, mẹ trả lời, “Hai chiếc xe đạp là của hai chàng trai sau hè kìa”. “Hai chàng nào?”, tôi tò mò hỏi. Mẹ tôi đáp: “Họ cũng quen con mà. Ở Bá Linh hồi đó, họ vẫn cùng con đi dự sinh nhật các bạn bè. Đó là Hanschen và Gerd. Hanschen là con trai của người bạn thân của mẹ, còn Gerd là em họ của cậu ấy”.
Tôi chỉ nhớ có Hanschen, còn người kia thì mơ hồ có biết. Hanschen nhỏ hơn tôi vài tuổi, và đối với bọn trẻ, đó là một điều rất quan trọng. Anh đã di tản khỏi Bá Linh đến Luân Đôn ở với người cậu. Lúc đi lính trong quân đội Anh, anh đã tìm lại được cha mẹ mình ở Theresienstadt, một nơi đóng quân anh đã đi qua. Sau đó cả gia đình di dân qua Canada.

Gerd cũng đi khỏi Đức qua ngã Glasgow như tôi, trên các chuyến di tản trẻ em. Cha mẹ chàng đều đã bị thủ tiêu ở Auschwitz. Ở Glasgow, cũng như ở Bá Linh, chúng tôi cùng đi học chung trường, nhưng chưa bao giờ biết nhau. Sau khi tôi đã đi Thượng Hải, anh lên đại học, theo ngành kỷ sư điện ở Glasgow. Giờ đã tốt nghiệp, anh cùng Hanschen từ Canada đi xe đạp xuyên suốt nước Mỹ.

Cuộc đời có những bước rẽ kỳ hoặc. Trong Phật giáo, ta nói về những trường hợp như thế như là duyên nghiệp, nhưng lúc ấy tôi làm gì biết chuyện đó. Tôi đã gặp Gerd ở tại nhà mẹ tôi, không ngờ đó là cuộc gặp gỡ của định mệnh. Ngay buổi đầu tiên gặp gở, chúng tôi đã thấy có rất nhiều điểm tương đồng về quan niệm cuộc sống. Chúng tôi hiểu nhau một cách lạ kỳ, có lẽ vì chúng tôi cùng hướng về cuộc sống nội tâm.

Cuộc gặp gỡ đó như cho tôi thêm sức mạnh, vì tôi hiểu còn có một người nữa chia sẻ cùng một quan niệm sống với tôi. Tôi cố gắng đưa ra một số đề nghị để thuyết phục chồng tôi về việc tôi sẽ theo đuổi mục đích của mình. Nhưng mọi ý kiến, đề nghị đều bị chồng tôi gạt ngang, như thể anh không nghe tôi nói gì. Anh không muốn tôi thay đổi, không muốn cuộc sống hay bất cứ thứ gì thay đổi. Vì thái độ đó của anh, sự liên hệ tình cảm của hai chúng tôi đi đến chỗ bế tắc. Tôi thấy mình không còn lựa chọn nào hơn là phải tự quyết định lấy cuộc sống của mình, phải chia tay với anh. Không thể tiếp tục mãi một cuộc sống như thế. Chỉ làm cho cả hai chúng tôi đau khổ.

Khi tôi báo cho anh về quyết định ly hôn, anh rất bực tức, giận dữ. Anh không bao giờ tha thứ cho tôi về quyết định này. Anh không thể hiểu anh và tôi đã quá xa cách trong cái nhìn về cuộc sống.

Đó không phải là một quyết định dễ dàng cho tôi. Irene mười ba tuổi, Jeffrey mới ba tuổi, và mái ấm này thực sự là mái ấm đầu tiên của tôi kể từ khi trưởng thành.

Tôi để lại mọi thứ -từ nhà cửa, đồ đạc, sách vở, xe cộ cho đến quần áo. Irene sống với cha ở San Diego, một phần có lẽ vì bà ngọại cháu cũng sống ở đấy. Cháu phải học cho xong trung học ở đó. Tôi dọn đến Rancho La Puerta, ở Tecate, Mễ Tây Cơ. Đó là một nông trại, cách San Diego khoảng hơn một giờ rưởi lái xe, được sử dụng như một trung tâm phục hồi sức khỏe, ở ngay cạnh biên giới Mỹ-Mễ. Giáo sư Edmund Szekely làm giám đốc ở đó. Ơng đã viết hơn bảy mươi đầu sách chuyên về sức khỏe tâm sinh lý. Ở nông trại đó ông dạy về triết học của Essenes, dạy ăn uống thực phẩm thiên nhiên và cách sống theo thiên nhiên. Essenes là một hệ phái thuộc đạo Do Thái, rất phát triển vào thời Chúa Jesus. Họ có những luật lệ riêng cho giáo hội của họ, như là, không được kết hôn, không được có của cải riêng. Họ không ăn thịt, và rất ôn hòa, khác hẳn với các hệ phái khác của đạo Do Thái.

Thật là một nơi thú vị. Có rất nhiều các vị khách nổi tiếng được mời đến nói chuyện, thí dụ như Aldous Huxley. Và các thành viên đến tham dự trại cũng không phải là những người đến đây chỉ vì những phòng tắm hơi saunas, hay các thức ăn chay. Họ đến đây để tìm những món ăn tinh thần.

Ngay ở đây, tôi bắt đầu những bài học đầu tiên về tâm linh. Tôi đặt mua nguyệt san Tự Khám Phá Mình (Self-Realization Fellowship, do Swami Yogananda sáng lập), trong đó luôn có những bài viết công phu, các trang giải đáp thắc mắc. Tôi rất vui mừng tìm được những người có cái nhìn rất giống tôi, dầu chỉ là trên sách báo. Dầu còn xa vời, nhưng tôi có linh cảm một ngày nào đó tôi sẽ tìm được suối nguồn tâm linh để thỏa mãn cơn khát của tôi.

Tuy chân lý sâu xa, vi diệu nhất tôi chỉ có thể tìm thấy mãi sau này. Nhưng tôi đã hấp thụ, học hỏi được rất nhiều vấn đề ở Rancho La Puerta, từ giáo sư Szekely, từ những người đã đến đây thuyết trình, từ tạp chí Self-Realization, từ những thành viên đến dự trại và từ các bạn đồng nghiệp. Một thế giới mới vừa mở ra cho tôi, một thế giới đầy hứng thứ, say mê đối với tôi.

Tôi làm thư ký bán thời gian cho vợ của giáo sư Edmund Szekely. Để đổi lại, tôi được bao ăn ở tại đó, có người săn sóc cho cháu Jeffrey (chúng tôi học được tiếng Mễ từ bà bảo mẫu này) và một ít tiền xài vặt. Mỗi cuối tuần, Irene đều đến thăm chúng tôi. Tôi viết những lá thư đầy phấn khởi đến Gerd.

Một năm sau, Gerd cũng đến sống ở nông trại. Anh cũng làm việc bán thời gian ở phòng tiếp tân, làm công việc anh thích, thỉnh thoảng lại có được tiền bồi dưỡng. Cuối cùng chúng tôi quyết định kết hôn. Đám cưới được cử hành trên một ngọn đồi phía sau căn nhà nhỏ của chúng tôi, với rất nhiều khách mời là những công nhân người Mễ, có sự chứng kiến của một vị rabbi (LND: Giống như vị sư trong Phật giáo), với Jeffrey và một chú chó con. Tôi còn nhớ là mọi thứ đều rất lãng mạn. Cuộc sống của chúng tôi rất tự do, tuyệt vời.

Người chồng trước của tôi cũng được nhiều điều may mắn. Ông trở về Đức (tôi đã giúp ông nhiều trong việc này), tìm lại người yêu của thời tuổi trẻ, mà ông đã thất lạc tung tích từ thời Đức quốc xã. Cuối cùng ông tìm gặp được bà. Hai người trở về lại Mỹ, và họ đã sống với nhau hơn bốn mươi năm nay. Giờ ông đã tám mươi chín tuổi.

Tôi thấy cuộc sống riêng tư của mình cũng không có gì đáng kể, nhưng chúng là chứng tích của sự trưởng thành của tôi. Chúng cho thấy là qua một thời gian dài, tôi cũng sống cuộc sống bình thường như bao phụ nữ khác, với những vấn đề, những gúc mắc như họ, với bao bất bênh trong chia lìa, thay đổi. Nhưng muốn tiến được đến sự tự do tuyệt đối, ta cần phải có can đảm đối mặt với tất cả những vấn đề này.

Sống ở Rancho La Puerta, cả ba chúng tôi đều trở thành những người ăn chay, và còn giữ được như thế mãi cho đến bây giờ. Tôi trở nên rất thích thú với đề tài sức khỏe và dinh dưỡng. Tôi đã đọc và học rất nhiều về đề tài này. Nông trại rất đẹp, với các vườn rau cải, các cây leo bao quanh. Trong trại có hồ bơi, có nhiều loại cây, những tàng cây lớn, và một chỗ đốt lửa trại rất to, nơi chúng tôi thường tụ tập vào mùa đông. Ở nơi đây, tôi được học hỏi rất nhiều về sự liên hệ giữa thân và tâm, giữa cuộc sống và tâm linh.

Tôi vẫn chưa biết gì về Đức Phật. Tôi chỉ biết là có cái gì đó trong tôi -một làn sóng, một tiếng gọi, một lý tưởng cao cả thôi thúc. Tôi chưa thể đặt tên cho nó là gì. Nhưng cảm giác đó có mặt, và thật may mắn cho tôi, Gerd cũng chia sẻ cùng cảm giác. Tuy nhiên, lúc đó chúng tôi vẫn nghĩ điều quan trọng nhất trong đời là một cuộc sống trong sạch hơn, lành mạnh hơn, và chúng tôi tin tưởng rằng cuộc sống đó sẽ đưa chúng tôi đến hạnh phúc nội tâm.

Chúng tôi sống ở Rancho la Puerta được hai năm. Rồi Gerd nghĩ rằng chúng tôi cần đi khắp Trung và Nam Mỹ. Anh là một nhà thám hiểm và rất thích khám phá ra những điều mới lạ, ngày nay anh vẫn thường đi du lịch. Tôi cũng không an tâm sống mãi thế này. Tôi nghĩ có lẽ là do chúng tôi đã bị tước mất đi sự ổn định trong cuộc sống với cha mẹ ở lứa tuổi còn quá nhỏ. Chúng tôi không có khả năng liên hệ với một nơi chốn nào như là quê hương để cắm rể xuống đó. Chúng tôi không cảm thấy đâu là nhà, mà nhà cũng là ở khắp nơi.

Vì thế, chúng tôi mua chiếc xe jeep hiệu Willys, bốn mã lực. Chúng tôi nhận được ít tiền đền bù từ Đức. Hơn thế nữa, lúc đó tôi còn có thông hành của Mỹ. Được làm công dân Mỹ, có nghĩa là tôi được có những quyền của một người công dân, sau bao năm làm người không có quê hương, xứ sở.

Chúng tôi sửa sang chiếc xe để có thể ngủ luôn trên đó. Và chúng tôi bắt đầu cuộc hành trình -trước tiên là Mễ Tây Cơ. Và sau đó là những nơi khác nữa. Jeffrey đi theo chúng tôi. Irene ở lại San Diego. Cháu đã được mười sáu, chỉ còn một năm là vào đại học.

Sau đó, cháu lên đại học, nhưng không hoàn tất chương trình học, vì cháu lập gia đình năm mười tám tuổi. Cháu lập gia đình với một người bạn học, cùng tuổi. Cả hai đều không có việc làm, dĩ nhiên ai cũng chống đối cuộc hôn nhân đó, kể cả tôi. Chúng tôi nói không thể nào cuộc hôn nhân này có kết quả.
Vậy mà sau này đó là cuộc hôn nhân thành công nhất mà tôi được biết trong số ít các cuộc hôn nhân thành công. Từ kinh nghiệm đó, tôi thấy rằng có lẽ chúng ta nên để con cái đi theo con đường chúng lựa chọn. Ta phải biết buông xả. Đó là bài học tôi thực sự hiểu ra sau này, trong một trường hợp khác.
Chúng ta chỉ là những người khách trên trái đất này, không thể sở hữu được thứ gì -kể cả những gì thân yêu nhất của ta.

………………………………..

Chương 6
Thám Hiểm Trung Mỹ Bằng Xe Jeep

Kẻ dũng mảnh chánh niệm
Không vui thú hưởng nhàn
Như cánh thiên nga xa lià tổ ấm
Phiêu lưu khắp chốn cùng nơi
Kinh Pháp Cú – 91

Khi chúng tôi còn sống ớ Rancho La Puerta, có một đoàn gồm các nhà khoa học gia ghé qua, họ đang nghiên cứu về một bộ tộc sắp diệt chủng trong các cánh rừng ở Mễ Tây Cơ. Họ muốn tìm hiểu xem những người này sống như thế nào, ăn uống ra làm sao, khi bịnh hoạn họ làm gì, tôn giáo của họ ra sao. Giờ chúng tôi cũng muốn làm một cuộc thám hiểm để khám phá những điều tương tự như thế.

Xe jeep của chúng tôi có bốn mã lực. Gerd làm thêm một cái thùng to trên nóc xe để chứa đồ đạc. Bên trong xe, ngoài giường ngủ của chúng tôi, còn có thêm một bếp lò nhỏ dùng khi đi cắm trại.

Nhưng chúng tôi lại không giống một đoàn lữ hành nào -một người đàn ông, một phụ nữ và một cậu bé trai. Thời đó, những du khách bụi đời chỉ có ba-lô trên vai chưa có. Năm 1961, khi chúng tôi bắt đầu cuộc hành trình, khách ngoại quốc cũng là một hiện tượng lạ đối với các người dân bản xứ. Người ta trố mắt nhìn chúng tôi, nhưng ở đâu chúng tôi cũng được đối xử rất tử tế. Có lẽ cũng nhờ có Jeffrey. Vì có lẽ họ nghĩ những người có con nhỏ, chắc không dám bày trò gì mờ ám. Từ đầu cuộc hành trình, Jeffrey đã giúp chúng tôi nhiều hơn là làm chướng ngại cho chúng tôi.

Tôi xin nói trước là cuộc hành trình của chúng tôi đã kéo dài hơn dự định rất nhiều. Dự định ban đầu của chúng tôi là sẽ ổn định ở một vùng quê nào đó. Nhưng chúng tôi không thể thực hiện được điều đó cho mãi đến sau này, nhưng không phải là ở Nam Mỹ, mà ở xứ Úc xa xôi.

Jeffrey lúc nào cũng ở bên cạnh chúng tôi. Thỉnh thoảng cậu bé cũng được đến trường, nếu như chúng tôi dừng ở đâu đó một thời gian khá lâu. Nhưng phần lớn là do tôi dạy cho cháu tại ‘nhà’. Ngày nay, cháu đã trở thành một chuyên gia máy tính ở đại học Brisbane.

Trong suốt thời gian đó, chỉ có một lần, Jeffrey bị bịnh rất nặng, do cháu đã uống nước bị nhiễm trùng. Ngoài ra, cháu luôn tỏ ra rất khỏe mạnh và là một cậu bé rất dũng mảnh, độc lập, tự tin. Cháu không cần ai phải luôn theo dõi, chăm sóc mình. Làm gì cháu cũng tham gia làm, không hề than thở, chê bai thức ăn hay những thứ gì khác.

Trên những chặng đường chúng tôi đi qua không có khách sạn. Một đôi lần, chúng tôi nghỉ ở các nhà trọ nhưng luôn phải tự đi chợ để nấu thức ăn cho mình. Jeffrey rất thích đi chợ với tôi. Cháu nói lưu loát tiếng Mễ, và trả giá như một bà nội trợ chánh cống. Vì thấy cháu nhỏ dễ thương, các bà bán hàng đều bán cho cháu mọi thứ rẻ hơn là bán cho chúng tôi. Cho đến giờ, Jeffrey cũng còn thích đi shopping, nhưng cháu không còn nhớ tiếng Mễ nữa. Không còn nhớ đã có lúc người ta gọi mình là Jeffrito (là chú bé Jeffrey trong tiếng Mễ). Cũng thường thôi, như chúng ta đã quên những tiền kiếp của mình.

Khởi đầu cuộc hành trình, chúng tôi lái xe xuyên qua Mễ Tây Cơ đến quần đảo Yucatan, nơi Mayas và Aztecs đã xây dựng các đền thờ. Chúng tôi rất thích thú khám phá về cuộc sống hằng ngày của một dân tộc đã qua thời vàng son. Thí dụ, chúng tôi viếng thăm những nơi chốn giờ hoang vu, để tưởng tượng ra họ đã sống như thế nào khi không có máy móc, dòng điện; làm thế nào họ có thể làm ra được những lu, hủ và các đồ gia dụng khác.

Sau đó, chúng tôi dừng chân ở San Miguel de Allende, một thành phố được xây dựng bằng những mỏ bạc trong vùng, bởi những kẻ chiến thắng người Tây ban Nha. Ngày nay nó là một di tích lịch sử, một thành phố rất đẹp với một trường đại học ở đó tất cả chương trình đều được giảng dạy bằng tiếng Anh.

Ở San Miguel de Allende, chúng tôi mướn được một căn nhà đã được xây dựng năm trăm năm trước của một người Mỹ, với giá năm mươi đô la. Trong nhà đã có sẳn đồ đạc, sẳn đủ mọi thứ kể cả hai người giúp việc, cùng hai con chó. Một con chó cái rất to bự, và một con chó sóc nhỏ trắng. Con chó cái rất nhát; ban đêm chỉ cần một tiếng động nhỏ, là nó lập tức nhảy vào giường tôi. Mỗi lần như thế, tôi tưởng là mình bẹp dí vì sức nặng của nó.

Căn nhà có tường bao bọc chung quanh, có cổng lớn, bên trong là một khu vườn đầy các giống cây miền nhiệt đới, được trồng theo phong cách người Mễ, rất đẹp. Vì thế chúng tôi ở lại nơi đó, và tôi ghi tên học đại học.

Đây là lần đầu tiên trong cuộc đời, tôi bước chân vào đại học. Chồng tôi đã có một bằng đại học, nhưng tôi thì chỉ có những kinh nghiệm sống. Tôi rất sung sướng được học hỏi những điều mới lạ. Tôi ghi tên học viết văn, lớp nhiếp ảnh báo chí, lịch sử, và dĩ nhiên là tiếng Tây Ban Nha. Đó là một ngôn ngữ tuyệt vời mà cho tới bây giờ tôi vẫn còn lưu loát. Tôi nhớ lại cha tôi đã rất biết nhìn xa, khi ở Thượng Hải, ông đã nói đánh máy là một khả năng không thể thiếu. Những điều tôi học ở đại học San Miguel de Allende cũng rất thực dụng. Tôi viết cho các tạp chí Mỹ về những nơi chốn tôi đã đi qua, cùng với những hình ảnh tôi đã chụp và cũng chính tôi tự rửa lấy.

Jeff được gửi đi học ở một trường mẫu giáo của các bà sơ. Cậu bé không thích lắm vì đã quen tự do. Một ngày kia cháu đi học về với vẻ hớn hở lắm. Tôi hỏi cháu có việc gì mà hân hoan thế. Cháu đáp: “Có bà sơ chết, nên tụi con được nghỉ buổi chiều. Thích ghê”.

Nhưng lúc đó thời gian tạm trú ở San Miguel de Allende, thành phố bạc, cũng vừa chấm dứt. Sau hai năm sống ở một chỗ, chồng tôi cảm thấy đã đến lúc chúng tôi nên đi một nơi khác ở Trung Mỹ, rồi Nam Mỹ. Như thường lệ, tôi làm theo anh như một người vợ ngoan ngỗn. Tôi đang yên ổn với cuộc sống ở đây, mọi thứ đều còn rất hấp dẫn tôi. Nhưng tôi có bao giờ là người quyết định đâu.

Khoảng thời gian đó, các xa lộ liên lục ở Châu Mỹ đang được xây dựng dang dở; có nhiều nơi vẫn chưa có cầu. Chúng tôi lái xe jeep trên xa lộ từ Mễ Tây Cơ đến Panama. Cứ vài kilo mét thì gặp một con sông. Lúc nào cũng như lúc nào, chừng vài thước trước khi đến một con sông, sẽ có tấm bảng gỗ ở giữa đường sơn chữ Desvio, có nghĩa là quay trở lại. Nhưng làm sao có đường để quay trở lại. Không còn cách nào khác hơn, chúng tôi đành lái bừa xe jeep qua sông.

Có những con sông cạn, nhưng cũng có sông sâu, dòng nước cuộn xiết. Dĩ nhiên là tôi sợ chết đi được. Chỉ có Jeff là không sợ hãi gì cả, còn thích thú là khác. Nhưng có lần chúng tôi gặp nguy hiểm. Xe chúng tôi bị lút giữa dòng sông. Gerd phải lội bộ trở lại, tìm kiếm mấy người thợ làm đường, cho họ ít tiền để họ kéo chúng tôi lên bờ. Đó là lần duy nhất chúng tôi cầu cứu đến người khác. Còn tất cả chúng tôi chỉ dựa vào chính mình.

Chúng tôi lại gặp động đất ở Costa Rica. Lúc đó chúng tôi đang ngủ ở môt quán trọ, bỗng phòng chúng tôi chao đảo. Tôi lôi Jeffrey ra khỏi giường, chạy biến ra ngoài cửa. Không có gì xảy ra, nhưng đó là lần đầu tiên tôi biết đến động đất. Thật là ghê rợn. Nhưng Jeff thì cứ ngủ như không có gì xảy ra.

Ở El Salvador, tôi lại có được những kỷ niệm vui. Ở đó có nhiều thác nước đổ xuống những hồ nhỏ mà chúng tôi có thể tắm trong đó. Người dân ở đây ai cũng vui vẻ, tử tế với chúng tôi. Tôi kết bạn với một nhà truyền đạo Kitô giáo, và các nông dân gốc người da đỏ. Ở mỗi làng, chúng tôi đều ra chợ gặp gở, trò chuyện với những người da đỏ biết tiếng Tây Ban Nha. Chúng tôi tò mò muốn biết họ sống thế nào, vì chúng tôi cũng đang dự tính sống xa thế giới văn minh, hiện đại mà chúng tôi đã từng sống.

Sau bốn tuần di chuyển vất vả, cuối cùng chúng tôi cũng đến được Panama. Có bao nhiêu thư từ –những liên hệ từ một thế giới khác, đang chờ chúng tôi ở bưu điện. Panama cách Nam Mỹ qua những cánh rừng Darien dày đặc không xe hơi nào có thể chạy qua. Cũng có những nhà thám hiểm vượt qua được, nhưng chúng tôi hoàn toàn bó tay. Tôi không biết bây giờ đã có đường đi xuyên qua đó chưa. Nhưng lúc đó, chúng tôi đành bỏ xe lại, lên máy bay đi Bogota, Columbia. Bogota là thủ đô có độ cao cao nhất thế giới: 2645 mét trên mực nước. Có lần tôi đang đi bộ xuống dốc, bỗng nhiên tôi thấy không thể thở đượ, trong khi sức khỏe tôi vẫn đang tốt. Rồi Gerd cũng có cảm giác như thế, dầu anh cũng rất mạnh khỏe. Đó là vì chúng tôi chưa quen với độ cao. Chỉ có Jeff là không bị ảnh hưởng gì về sự khác biệt khoảng vài ngàn thước ở độ cao. Cháu vẫn chạy nhảy như lệ thường.

Từ Bogota, chúng tôi đi xe buýt xuống Quito, Ecuador. Xe buýt nêm chật người và gà. Đúng ra đây là xe bốn mươi chỗ ngồi, nhưng có ít nhất là tám mươi người trên xe. Người ta vừa ngồi, vừa ăn uống, tán chuyện, đám gà thì kêu cạc cạc. Các thứ nước sốt từ bánh mì đổ đầy xuống sàn, nhưng trên tất cả là bác tài lái xe như một người điên. Đúng ra tất cả các bác tài lái xe buýt ở Nam Mỹ đều như thế cả. Họ lái xe với tốc độ cao, lại không hoàn toàn chú tâm vào đó. Lúc nào thấy các phụ nữ trẻ đẹp ở các góc đường, họ đều quay đầu nhìn chăm chú. Lúc đó để ra vẻ đàn ông, họ còn nhấn thêm ga, làm cho mấy con dê, con ngỗng ở ven đường chạy tán loạn.

Phải thú nhận rằng tôi không ưa thích kiểu lái xe như thế này. Nhưng tôi không dám nói gì, vì Gerd tỏ ra rất thích thú. Anh là người rất thích mạo hiểm. Khi anh thấy một ngọn núi cao, thì anh phải trèo lên. Còn tôi, thì thà ở dưới đất còn hơn. Giờ anh đã sáu mươi chín, nhưng cũng chẳng thay đổi gì. Vẫn còn đi trên những chuyến xe buýt như thế.

Chúng tôi đến Quito bình an, là điều mà tôi cho là một phép mầu. Tôi hoàn toàn kiệt sức, người đầy bụi bậm, phân gà và sốt bánh mì. Chúng tôi mướn phòng, tắm rửa, và lần đầu tiền chúng tôi quyết định bỏ tiền đến một khách sạn sang trọng ăn tối. Nhưng nhân viên khách sạn từ chối không cho chúng tôi vào, vì Gerd không đeo cà vạt. Đó là điều làm tôi luôn nhớ đến mỗi khi nghĩ về Quito.

…………………………………………

Add a Comment

Your email address will not be published. Required fields are marked *

Web
Analytics