Ông Từ Diễn Đồng mâu thuẫn với chính ông. Đã hỏi:
Lòng nước ai ai đà thức dậy
Dậy thì lên tiếng gọi nhà nho…
Ông lại chép miệng:
Thiên hạ có khi đang ngủ cả
Tội gì mà thức một mình ta
Không ai ngủ. Tất cả đều thức. Và thức trắng đêm qua. Và cùng đợi chờ. Có ba tâm trạng đợi chờ trong một đêm bắt buộc không ngủ. Kẻ đợi chờ cộng sản mang hạnh phúc cho mình. Kẻ đợi chờ cộng sản mang bất hạnh cho mình. Kẻ đợi chờ cộng sản vùi xác giữa một thành phố bất khuất. Tôi đang ở tâm trạng thứ ba sau khi thoát khỏi tâm trạng thứ hai. 6 giờ thiếu 10 phút. Thường lệ, vào giờ này, sinh hoạt chợ Xóm Lách đã ồn ào. Hôm nay im vắng. Chẳng phải vì giới nghiêm đâu, mà vì cuộc hôi đồ chiều hôm qua đã diễn sâu tới khuya, đã diễn xa lên Sài gòn, đã diễn rộng khắp khu vực nên dân chúng ngồi nhà ngắm “chiến lợi phẩm”. Tôi lại mở cổng ra đường. Bước sát cột đèn lưu thông, tôi đứng ở ngã tư Công Lý – Yên Đổ. Lần đầu tiên, từ hai mươi năm khôn lớn tại Sài gòn, tôi được nhìn Sài gòn buồn bã. Như thể Sài gòn choàng khăn tang và hồi chuông cáo phó đã đọng trên đầu cỏ, ngọn lá. Con phố Công Lý, con đường của VIP, nườm nượp xe cộ từ tan giới nghiêm đến vô giới nghiêm, hôm nay, vắng ngắt. Tôi mơ hồ thấy, trong hiu quạnh khôn cùng của ban mai Sài gòn 30-4, những lời giối giăng đứt khúc. Chắc chắn không có sóng ngầm. Chắc chắn không có Stalingrad ở Sài gòn. Không có một dấu hiệu nào chứng tỏ thành phố chuẩn bị nghênh giặc. Tôi đã thất vọng. Tôi đã tuyệt vọng. Não nề hơn, tôi đã thất tình với cuộc chiên đấu mơ ước. Với Dương văn Minh và đám cầy cáo đui què, không bao giờ có chiến đấu, dù chiến đấu để chết đẹp, chết xứng đáng làm người. Tôi tự trách tôi ngu xuẩn đã không chịu suy diễn sự dọn đường quỳ mọp của Lý Quý Chung, phát ngôn viên chính thức của Dương văn Minh. Tôi ngu xuẩn hay tôi giống người sắp chết đuối với được cái phao Giới Nghiêm 24 trên 24? Sài gòn của tôi, Sài gòn của chúng ta đã lần nào chịu khuất phục trước bạo lực xâm lăng? Từ thành phố này mang tên Sài gòn, ít nhất, đã hai phen nó phóng nhiệt tình và lòng tự phụ vào mặt kẻ thù xâm lược. Còn nhớ Tiếng súng Nam Bộ của tháng ngày 1946 chứ:
Tiếng súng vang sông núi miền Nam
ầm đất nước Việt Nam
Tiếng súng vang lùng khắp non sông
dục ta ra tranh đấu
Tiếng súng vang sông núi miền Nam
vì mưu chiếm miền Nam
Ta muốn băng mình xuống phương Nam
xé xác quân tham tàn…
Còn nhớ nghĩa sĩ Bình Xuyên* thuở ấy chứ?
Bình Xuyên…
Bình Xuyên oai hùng ngàn năm
đoàn dũng sĩ máu sôi lòng hờn căm
Khi quân ta tiến ra
vung gươm lên chói lòa
muôn đầu rơi sát khí
ầm vang hát
chốn sa trường không tiếc thân…
Bình Xuyên…
Gò Công hai lần diệt Tây…
Còn nhớ tuổi trẻ Sài gòn thuở ấy chứ? Những gậy tầm vông của thanh niên đã làm khiếp đảm súng liên thanh của liên quân Anh-ấn-pháp. Những địa danh Cầu Quay, Cầu Mống, Rạch Đỉa, Thị Nghè đã làm nản lòng quân xâm lược. Và đã làm Sài gòn ngạo nghễ, đã làm người Sài gòn bất hủ. Đó là lần Sài gòn đứng dậy, đứng hết dậy viết những trang lịch sử mới sau 100 năm nô lệ. Lần thứ hai, còn nhớ chứ, tháng ngày mùa hè 1955. Tuổi trẻ Sài gòn lại đứng dậy, kẻ sĩ Sài gòn lại đứng dậy biểu dương nhiệt tình và lòng tự phụ cho bạo lực cộng sản mở mắt. Những khẩu hiệu chiến đấu ăm ắp sáng tạo: Chặt cổ Hồ Chí Minh. chém ngang thây Trường Chinh… Những bước chân săn đuổi Văn Tiến Dũng khiến nức lòng đường phố. Nhiệt tình của tuổi trẻ bốc cháy Majestic, Galliéni. Gươm dáo Bảo Tàng Viện cũng rung rinh nhạc võ Kẻ thù phương Bắc rụng rời… Nhưng hôm nay… Đứa thoán nghịch đã học đòi Mạc Đăng Dung sẽ học đòi Mạc Đăng Dung thôi…
Tôi nhìn ngang con đường Công Lý. Tôi nhìn dọc con đường Yên Đổ. Tôi hình tưởng những con phố khác. Tôi hình tưởng cái toàn thể Sài gòn và những vùng thân yêu Đakao, Tân Định, Phú Nhuận, Chí Hòa… Tất cả chìm vào mù khơi hiu hắt. Tất cả rơi xuống hụt hẫng thinh không.
Sài gòn.
Em đã cho anh hai mươi năm sung sướng
Anh phải van lơn để hứng chịu cơ cầu
Tôi chôn chân cạnh trụ đèn lưu thông, ngã tư CôngLý – Yên Đổ. Tôi thèm được chết đứng ở đây. Tôi thèm được chết đứng cơ hồ Từ Hải, cái chết đứng bị phản bội nhục nhã. “Thiên hạ có khi đang ngủ cả,” mình tôi, một mình tôi thức, mình tôi chới với trong quạnh hiu ứa máu của Sài gòn đợi chờ khuất phục. Và tôi, tôi lại đợi chết. Mơ ước cuối cùng của tôi đã tàn tạ khi chưa kịp nở. Tôi mơ hồ nghe tiếng bước chân thù dẫm trên đường phố, tiếng rên xiết của đất đá, tiếng chuông cáo phó rung lên cho Sài gòn chết oan. Tôi không chết đứng nổi. Tội nghiệp tôi. Tôi trở về, đẩy cổng, vào nhà.
***
Đạn nổ phía phi trường Tân Sơn Nhất đã thưa thớt. Trực thăng Mỹ vần vũ mạnh hơn ở góc trời đó, góc trời ân huệ của những người Việt Nam đã ăn no đấm đá của lính Mỹ để leo lên nóc Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ; góc trời thảm não của những người Việt Nam không được ăn no đấm đá của lính Mỹ để bị ngồi bó gối trước cống Toà Đại Sứ Hoa Kỳ.
Trời đầy sương mù. Tại sao sương mù mùa xuân, mùa khô của miền Nam? Bỗng chuông điện thoại reo:
– Alô, bố Tí hả?
-Ừ.
– Tao lên được không?
-Giới nghiêm 24 trên 24 mà.
-Ở đây, thiên hạ đi lại ầm ầm.
– Thì ông lên đi?
Đặng Xuân Côn từ Phú Nhuận gọi cho tôi. Chuông điện thoại reo làm các con tôi thức. Nhà tôi, vì uống thuốc an thần quá trễ nên vẫn còn ngủ mê man. Thằng con lớn của tôi chạy ra phòng khách. Nó bật đèn. Thấy tàn thuốc lá bừa bãi, chai Rémy Martin đã cạn nằm nghiêng, nó hỏi:
-Bố không ngủ à?
Tôi gật đầu.
-Bố sợ cộng sản à?
Tôi lắc đầu.
-Tại sao bố không ngủ?
Tôi đáp:
-Rất nhiều người không ngủ đêm qua.
Không để con nít biết chuyện nước non buồn thảm, tôi dục con tôi:
-Cu Tí pha cà-phê cho bố.
Đặng Xuân Côn đã lái xe lên Sài gòn. Chúng tôi uống cà-phê, đàm luận. Con nít bị đuổi hết vô phòng ngủ:
– Có gì lạ ở Phú Nhuận?
– Thiên hạ đợi Việt cộng vào.
-Hân hoan đợi?
– Một nửa sợ hãi, một nửa vui mừng. Chắc chắn, không có đánh đấm gì đâu. Dương văn Minh là cái xác chết. Bọn tướng lãnh đầu xỏ cút hết rồi. Đào ngũ hết rồi. Ông Vĩnh Lộc ví như chiếc lá cuối cùng. Gió cũng cuốn ông ta bay…
– Tôi hiểu. Tôi đã mơ mộng Sài gòn sẽ là Stalingrad thứ hai. Rốt cuộc, nó sẽ là Hochiminhgrad, đúng như tiên đoán trước của lãnh tụ văn nghệ Nguyễn Đức Quỳnh mười tám năm cũ.
– Mày tính sao?
-Tính gì?
– Chuồn.
– Chuồn đâu? Mã cùng đồ rồi!
-Về Long Xuyên ẩn thân.
– Mai danh ẩn tích hả? Kệ mẹ nó. Đến đâu hay đến đó.
Đặng Xuân Côn có thể đưa vợ con di tản dễ dàng. Cứ bám lấy tôi vào những ngày tôi bối rối nhất. Rồi tôi biến thành cái đầu tầu di tản, kéo các toa em vợ. Nhà tôi không thèm nghĩ đến con mình, chỉ nghĩ vợ con của đứa em trai mình, bắt tôi kéo bằng được vợ con đùm đề của cậu em trai du học bên Mỹ.
Rốt cuộc, kéo nặng quá, đầu máy chết. Phạm Duy, trước khi chạy, cho tôi hay rằng anh đã phải vất vài đứa con lại. Anh khuyên tôi lo thoát lấy thân mình. Tôi còn bận bịu lo thoát thân vợ con của em vợ. Than ôi!
-Thả một vòng Sài gòn chơi chăng?
Đặng Xuân Côn đề nghị.
– Thì đi.
Tôi trả lời. Lúc ấy đã 7 giờ, đường phố không còn hoang vắng như cách đây một tiếng đồng hồ. Xe cộ xuôi ngược, bớt cảnh nườm nượp hàng ngày. Đèn lưu thông chớp nháy tự động ở các ngã tư. Lệnh giới nghiêm của Dương văn Minh vô hiệu quả. Luật pháp quốc gia đã bị coi thường. Người ta có thể tự do thanh toán nhau vì thù hận riêng tư hôm nay. Người ta có thể cướp bóc, hãm hiếp hôm nay. Cảnh sát vắng bóng. Quân cảnh vắng bóng. Nhưng cao quý thay là ngày Sài gòn thả nổi, ngày Sài gòn có chính phủ như vô chính phủ, tất cả bình yên nhờ chân lý mất gì không mất tình người Việt Nam. Tôi muốn vinh tôn dân tộc tôi bằng vàng son chói lọi. Tôi muốn vinh tôn Sài gòn bằng gấm vóc kiêu sa. Thành phố thân yêu của tôi, có trái tim của mấy triệu trái tim. Thành phố ấy không hề khích lệ, đốc xúi trả thù, tuyết hận trong cơ hội tha hồ trả thù, tuyết hận và tha hồ nhân danh đủ thứ chính nghĩa. Sài gòn, thành phố nhân bản, thành phố biểu tượng của tình nghĩa Việt Nam, của tình người Việt Nam. Như thế, Sài gòn vĩnh cửu, Sài gòn tồn tại như dân tộc Việt Nam. Tôi yêu Sài gòn.
Sài gòn,
tên em trên những vệt môi son
trong ánh mắt
và trong hơi thở
trong hạnh phúc
và trong đau khổ
ở tuổi non và ở tuổi già
ở xuân hồng sắp sang và thu biếc đã qua
ở hôm nay anh sống và ngày mai anh chết
Trước hết, Đặng Xuân Côn lái xe ngang qua căn nhà số 101 Phan Đình Phùng. Tôi thấy Mai Thảo đang nói chuyện với cô bé Nicole, (cháu của ông Nguyễn Đình Vượng, chủ nhiệm tạp chí Văn). Tôi ấm lòng. Mai Thảo còn ở lại Sài gòn. Chúng tôi sẽ cùng bơi trong biển máu. Đặng Xuân Côn cư ngụ tại cư xá Chu Mạnh Trinh, Phú Nhuận. Hắn cho tôi biết Văn Quang, Nguyễn Mạnh Côn, Trịnh Viết Thành còn ở lại. Anh em văn nghệ còn ở lại, tôi mới rõ bốn người. Những ai nữa, và những ai đã đi thoát,. không ai hiểu. Một ngày dài nhất còn là một ngày xa cách nhất. Vẫy tay chào Mai Thảo, chúng tôi vòng lại đại lộ Hai Bà Trưng, đến nhà thờ Tân Định. Gặp Nguyễn Tuấn Anh, ngỡ ngàng tưởng chừng gặp người trong mộng. Tuấn Anh và gia đình đã xuống tầu chiều qua. Tôi đã bắt tay vĩnh biệt anh. Thế mà anh trở lại, đang khuân “hành lý di tản” vào nhà. Con tầu đã đi. Người bạn của tôi không đi nữa. Vài câu đối thoại nhanh, chúng tôi tạm biệt Tuấn Anh lên Sài gòn. Tôi nghĩ Nguyễn Tuấn Anh sẽ chung số phận với tôi. Anh ta là bác sĩ, đã phục vụ quân đội, đã là dân biểu đối lập trong nhóm Quốc Gia, đã bày tỏ thái độ chống cộng quyết liệt như Nguyễn văn Cử, Nguyễn Trọng Nho, Đặng văn Tiếp, Nguyễn văn Cung, Trần văn Ân. Anh ta sẽ bơi trong biển máu.
Chúng tôi đậu xe sát lề đại lộ Thống Nhất, ngay cửa tư thất của ông Đại Sứ Pháp tại Sài gòn, thả bộ lên Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ. Trực thăng lên xuống đều đặn. Trên nóc tòa nhà biểu tượng cho quyền uy Hiệp chủng quốc ở Việt Nam, vẫn đông nghẹt người di tản. Chung quanh tường Toà Đại Sứ, Thủy quân lục chiến Mỹ mặc áo giáp, tay trần, kè kè M-16 gắn lưỡi lê sẵn sàng đàn áp những người Việt Nam sợ biển máu, nhất định đáp lời kêu gọi di tản của tổng thống Ford. Thủy quân lục chiến Mỹ, binh chủng vẻ vang của quân lực Hoa Kỳ, được thần thánh hóa trong phim ảnh do Hồ ly vọng sản xuất, đã và đang diễn nghĩa cái nắm tay thân hữu của Mỹ với các nước đồng minh. Năm 1954, lính thủy Mỹ thân ái cầm tay người Việt Nam di cư bỏ trốn cộng sản. Năm 1975, “lính thủy đánh bộ” Mỹ giáng báng súng xuống thân phận Việt Nam di tản bỏ trốn cộng sản. Hẳn nhiên, lý luận theo cộng sản, đó là hiện tượng. không phải là bản chất. Bản chất tốt đẹp là dân tộc Mỹ, là đất nước Mỹ. Hiện tượng xấu xa là chính phủ Mỹ, chính sách Mỹ đối với nước nhỏ. Thế thì cái hiện tượng Hoa Kỳ đang lạnh lùng đề phòng những người Việt Nam di tản xếp hàng đông đặc trên vỉa hè phía trước Tòa Đại Sứ chỉ rình cơ hội là tông cửa xô vào, leo lên nóc Tòa Đại Sứ. Dân tộc Việt Nam chưa được hưởng tí gì về sự nghiệp khai phóng dân chủ, tự do của Mỹ ở Việt Nam ròng rã hai mươi năm. Dân tộc bất hạnh này chỉ hưởng dùi cui, báng súng, lựu đạn khói, phi tiễn vì áp dụng bài học tự do, dân chủ. Và hôm nay, dân tộc ấy có định nghĩa chính xác về tự do trước cổng Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ.
Chúng tôi lái xe ra bến Bạch Đằng. Những con tàu nghiêng lệch về một bên đã đi cả rồi. Cái phà qua Thủ Thiêm còn sang ngang. Và trên sông, những chiếc ghe chèo, ghe máy đuôi tôm vẫn thản nhiên xuôi ngược. Chúng tôi sang Khánh Hội. ở kho 5, thiên hạ di tản ùn ùn kéo nhau vô. Có lẽ còn tàu. Chúng tôi trở lại Sài gòn. Các cửa hiệu khu phố Lê Lợi, Tự Do, Nguyễn Huệ đóng cửa. Ở những căn nhà lầu, cửa sổ mở tung và những khuôn mặt ngó xuống nhìn Sài gòn dáo dác. Khác với Sài gòn ngày 11 tháng 11 năm 1960, khác với Sài gòn buổi chiều trước 1-11-1963, khác với Sài gòn ngày chỉnh lý, ngày biểu dương lực lượng, ngày đảo chính cục bộ, Sài gòn sáng 30-4-1975 là ngày hân hoan dấu kỹ, là ngày ngơ ngác phô ra, là ngày sợ hãi hiện rõ. Trời u ám. Người ủ ê. Hơn tám giờ mà mặt trời còn ẩn kỹ. Không một sợi nắng. Có ba ngày lạ lùng trong tháng 4. Hôm tên phi công phản phúc oanh tạc Dinh Độc Lập, trời lất phất mưa. Hôm Dương văn Minh “lên ngôi” tổng thống, trời lất phất mưa. Và hôm nay, trời u ám lạ thường. “Khí trời u uất hận chia ly”. Câu thơ này đã diễn tả chính xác Sài gòn buổi sáng 30-4-1975.
Tôi bảo Đặng Xuân Côn đậu xe. Chúng tôi lang thang trên hè phố. Tôi nhìn vào Garden (Givral cũ) vắng hoe. Bên kia, Continental cũng thế. Mới hôm nào, ngày Sài gòn hốt hoảng tin cộng sản tấn chiếm Đà Nẵng, tôi còn ngồi chung bàn với Cao Dao, Đỗ Bá Thế luận bàn thế cuộc. Cao Dao, người biết quá nhiều, cộng tác viên của vài tờ báo Mỹ lớn. Anh viết tiếng Việt và Phùng thị Hạnh dịch sang Anh Ngữ. Sau này, sang Bỉ, viết báo Đức, anh lại viết bằng tiếng Pháp. Đỗ Bá Thể, tác giả Thím Bẩy Giỏi. Ngã tư quốc tế* , tiểu thuyết gia, báo gia, điện ảnh gia, kẻ lãng du tình ái không hề mỏi gối long chân. Cả hai, Cao Dao và Đỗ Bá Thế đều bình thản trước cơn hấp hối của Sài gòn. Tôi hỏi Cao Dao:
– Cả nước lo di tản, ông còn ngồi đây tán phét à?
Cao Dao cười tít mắt:
– Để thiên hạ đi vợi, tớ chạy sau chót.
Tôi nói:
– Ông ơi, không có chuyến tầu vét Hải Phòng 1955 đâu
Cao Dao hít đẫy hơi thuốc, nhả khói:
-Thì ở lại. Di tản sớm mất giá. Chạy trốn sau có giá. Cậu là nhà văn, cần buôn kinh nghiệm mà bán.
Tôi cười:
– Nhỡ vào biển máu, cạn láng?
Đỗ Bá Thế vỗ vai tôi:
– Tao đã đi mòn chân Âu Châu rồi, tao không viết được chữ nào thời gian dài tao ở Pháp. Về Việt Nam tao mới biết viết! Mày muốn tác yêu tác quái xứ người, mày cần ở lại. Thoát chết, bung ra được là mày nên người, Duyên Anh ạ?
Nghe hai ông già này nói chuyện câu trăng, câu sao trên mặt nước, tôi chợt nhớ hai câu thơ của Hoàng Cầm trong kịch bản Lên đường:
Đêm ba mươi còn đi cầu danh lợi
Vận nhà ta đến lúc hỏng mất rồi
Đó là ý nghĩ của tôi mấy hôm trước. Bây giờ, nhìn vào Garden qua cửa kính, tôi nhớ Cao Dao, Đỗ Bá Thề, và trong tâm hồn tôi vừa nẩy mầm hy vọng mới. Ừ nhỉ, nếu không dám tình nguyện đi buôn thì bất đắc dĩ đi buôn vậy “Thoát chết, bung ra được là mày nên người, Duyên Anh ạ?” Thoát chết, bung ra được… Di tản sớm mất giá. Tôi đã có niềm an ủi bị ở lại. Bước nhanh qua La Pagode. Cũng vắng hoe. Các nhà văn nghệ chiếu nhất, hàng đầu, chiếu ba hàng cuối, bằng hữu của tôi nơi mô? Sông chưa lấp mà tưởng chừng đã lấp. Biển dâu tự lúc nào vậy? Tôi đọc khẽ Trần Tế Xương:
Sông kia rầy đã nên đồng
Nơi thì nhà cửa nơi trồng ngô khoai
Đêm nghe tiếng ếch bên vai
giật mình còn tưởng tiếng ai gọi đò…
Và đọc khẽ Vũ Đình Liên:
Những người muôn năm cũ
Hồn ở đâu bây giờ…
Quay lại, tôi đã đứng trước cửa Phòng Triển Lãm. Nhìn sang Caravelle, tôi thấy vài anh phóng viên ngoại quốc đeo súng! Phóng viên nhiếp ảnh, quay phim, thông tín viên, ký giả ngoại quốc ví như lũ đỉa đói đã hút máu cuộc chiến của chúng ta bằng những tin bẩn, phim bẩn, bình luận bẩn của họ. Chính họ đã tiếp tay cộng sản tạo ra hôm nay. Sự hiểu biết thiển cận của họ, sự làm dáng tiến bộ của họ, sự phản chiến một chiều của họ, sự xuyên tạc, bêu nhục cuộc chiến đấu của chúng ta đầy ác ý và giúp cộng sản thắng lợi ngoài nước trước khi thắng lợi trong nước. Phóng viên, ký giả ngoại quốc, đỉa đói và kên kên gớm ghiếc, nhiều kẻ lãnh lương của Việt cộng, nhiều kẻ đần độn, nhiều kẻ tự nhận lương tâm của mình là lương tâm nhân loại để phán xét chiến tranh Việt Nam. Họ còn ở lại Sài gòn. Họ chưa muốn… di tản. Họ cần thiết có những thước phim, những tấm ảnh, những bài báo ngưỡng mộ cộng sản. Họ chờ đợi cộng sản tiến vào sài gòn. Họ đeo súng* . Không phải để đối phó với cộng sản mà để bắn chết bất cứ một người lính vô kỷ luật, một người Việt Nam nào đe dọa mạng sống của họ. Nhà báo đeo súng, thứ nhà báo vô liêm sỉ. Chắc chắn, nghĩa vụ luận báo chí của nước họ không có điều khoản đeo súng hành nghề. Nhà báo đeo súng và nhà báo đeo súng đã miệt thị ông Nguyễn Ngọc Loan bắn bỏ tù binh?
Nhìn những tên phóng viên ngoại quốc đeo súng nghênh ngang trước cửa khách sạn Caravelle, tôi lấy làm ghê tởm. Làng báo Việt Nam cũng có ít nhất, năm đứa đeo súng hành nghề. Đứa lõa lồ nhất, vô lại nhất là Như văn Uy. Thằng này đem súng cả vào Hạ Viện, bắn loạn xà ngầu. Nhưng khi bị Đặng văn Tiếp thách “bắn chậm thì chết”, nó co vòi. Bẩn mắt vì ngó những thằng phóng viên ngoại quốc đeo súng, tôi ngắm Hạ Viện. Hạ Viện đã giống chùa Quán Sứ của bà Hồ Xuân Hương:
Hạ Viện sao mà cảnh vắng teo
Hỏi thăm dân biểu đáo nơi neo
Nghị sĩ chạy cả rồi. Dân biểu chạy cả rồi. Chiến hay hòa không có tiếng vang rung chuyển nơi đây. Cho nên, những trang lịch sử chó đẻ nhất của dân tộc phải tính từ ngày 12-3-1975. Và những trang này không chứa chất u ẩn cần các sử gia đời sau soi sáng. Nó phơi ra thỗn thện như những miếng thịt bầy nhầy, như xác chết muông thú nhung nhúc ròi bọ.
Chẳng còn gì hấp dẫn ở trung tâm thành phố, cũng chẳng có gì lạ lùng ở bất cứ một khu vực nào của Sài gòn. Câu thơ sau đây của Trần Tế Xương diễn tả đúng cảnh tượng Sài gòn buổi sáng 30-4-1975:
Kẻ đi người lại dáng bơ vơ…
***
Chúng tôi trở lại tòa Đại Sứ Mỹ. 8 giờ 15 phút. Lính Mỹ vẫn lạnh lùng canh gác. Con nít ngủ la liệt trên vỉa hè. Cụ già dựa lưng vào tường, nửa thức nửa ngủ và nửa mơ màng thiên đường Mỹ. Chúng ta tìm về đất hứa không có Moise hướng dẫn, không có Moise bênh vực, không có Moise bảo vệ và không có Moise đầy phép tích nên chúng ta bệ rạc nằm, ngồi ngổn ngang trước Toà Đại Sứ Mỹ, chúng ta ăn báng súng, ăn xô, ăn đạp. Quân dữ ở không gian và thời gian nào cũng thế. Quân dữ ở thời đại của chúng ta hơi khác một tí là nó đã từng bảo nó là bạn của chúng ta. Người ta cần nhớ bài học cay đắng di tản những ngày cuối tháng 4-1975 ở phi trường Tân Sơn Nhất, ở tòa Đại Sứ Hoa Kỳ nằm trên đại lộ Thống Nhất mà định mức hào hiệp của người Mỹ thống trị. Và người ta sẽ quán triệt chân lý: Chỉ người Việt Nam mới giải thoát nổi thân phận Việt Nam khỏi ách thống trị của cộng sản. Người Việt Nam phải làm chủ vận mệnh của dân tộc mình. Mọi hậu thuẫn, trợ giúp tinh thần, vật chất là phụ. Chấp nhận viện trợ và khước từ chỉ huy, lãnh đạo. Để không còn vết nhục quốc sỉ Nguyễn văn Thiệu: “Bảo chúng tôi chống cộng sản mà không viện trợ thì làm sao chúng tôi chống cộng được”?
8 giờ 17 phút, bất thần, Thủy quân lục chiến Mỹ rút hết một lượt vào bên trong Tòa Đại Sứ. Dân di tản nhất loạt đứng dậy. Cụ già tỉnh táo. Con nít thức giấc. Mọi người chờ đợi một “biến cố” như một quyết định ban ân huệ vào phút chót. 8 giờ 25 phút, không thể chờ đợi lâu hơn, nóng ruột lắm rồi. Dân di tản leo tường vào, xô cổng vào. Chiếc trực thăng bay lên đúng 8 giờ 30 phút. Dân di tản đã ùa vô đầy sân Tòa Đại Sứ. không có chiếc trực thăng nào xuống, không còn chiếc trực thăng nào xuống nữa. Năm phút, mười phút, rồi ba mươi phút. Trực thăng hết vần vũ trên một góc trời Sài gòn. Chiếc trực thăng cuối cùng rời Sài gòn hồi 8 giờ 30 phút. Có thể, chuyến đó mang ông đại sứ Martin, các nhân vật của Tòa Đại Sứ, và lính Thủy quân lục chiến Mỹ ra khơi. Dĩ nhiên, ông đại sứ Martin đã không quên gấp lá cờ sao xọc vuông vắn, bê theo, bước lên tàu bay. Thế giới có thể mường tượng cảnh cuốn cờ bỏ chạy của đại sứ Martin qua hình ảnh đại sứ John Dean. Hình ảnh đại sứ John Dean cuốn cờ bỏ chạy khỏi Nam Vang đã đăng trên báo chí.
Những người hụt di tản đau nhất, đau đến mất trí, là những người đã chịu đựng “gian khổ” leo lên nóc Tòa Đại Sứ Đã ngồi trước cổng Thiên Đàng mà lại bị xuống Địa Ngục, còn gì nghẹn ngào hơn? Tuyệt vọng vì người Mỹ hào hiệp không trở lại, họ dắt díu nhau, tìm lối, mò mẫm xuống. Di tản trong gặp gỡ di tản ngoài. Di tản trên gặp gỡ di tản dưới. Chỉ Picasso mới đủ khả năng vẽ những khuôn mặt méo mó của người di tản hụt từ nóc Toà Đại Sứ xuống sân, bước ra đường. Thảm cảnh này rất nên ghi vào những trang lịch sử chó đẻ.
Ông Hồ Chí Minh không có tham vọng đánh tan giặc Mỹ. Hơn bất cứ ai, ông hiểu thấu binh pháp Tôn Vũ: “Tri kỷ tri bỉ.” Cho nên châm ngôn chống Mỹ của ông là”Đánh cho Mỹ cút”, không đánh cho Mỹ thua. ông ta đã thành công. Mỹ không thua mà Mỹ cút. Mỹ không bao giờ thua trận cả. Mỹ càng không bao giờ thua Việt cộng. Mỹ mở chiến tranh như mở cuộc chơi. Chơi lấy thắng mãi đâm ra nhàm chán, Mỹ chơi lấy… không thắng. Không thắng và thua khác nhau. Cút và thua khác nhau xa tít tắp. Như ăn uống và tiêu hóa vậy. Người ta có thể bắt bẻ: Không ăn lấy gì tiêu hóa, không thua tại sao cút? Bắt bẻ thế là sai. Mỹ muốn thắng Việt cộng thì bố Việt cộng cũng chẳng đỡ nổi. Đằng này, Mỹ không thèm thắng, dù Mỹ thí lính Mỹ chết thảm, què quặt, tàn phế như con nít đốt kiến. Do đó, thế giới thân cộng mới bảo chiến tranh Việt Nam là chiến tranh bẩn thỉu. Mỹ giao đấu với Việt cộng móc ngón tay: “Tao không đập mày chết đâu.” Việt cộng lạy lục: “Cám ơn ông, tôi chỉ mong ông cút.” Và Mỹ bèn cút…
***
Cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam là cuộc chiến tranh giai đoạn cho một mục đích*. Sự nghiệp chống cộng sản bảo vệ độc lập, tự do, dân chủ của chúng ta chỉ là cái cớ để Mỹ khỏa lấp cái tham vọng hèn hạ của họ. Hai trái bom CBU thả thử xuống chiến trường Long Khánh tiêu diệt dưỡng khí trong một chu vi rộng lớn đã làm “chết sạch” gần hai sư đoàn Việt cộng và cả quân dân ta luôn. Sự tiến công của cộng sản phải dừng lại. Mục đích thử bom CBU của Mỹ đã đạt. Không có thèm trái thứ ba như đã không có ngày thứ mười ba trải thảm bom B-52 ở Hà Nội. Mỹ hoàn toàn yên ổn lương tâm. Phi-la- tồ American rửa tay, mặc xác cho Việt cộng với biển máu của nó. Người Mỹ thực sự hết trách nhiệm khai phóng dân chủ tự do và bảo vệ dân chủ tự do ở Nam Việt Nam vào hồi 8 giờ 30 ngày 30-4-1975. Một nửa dân tộc bị bán đứng cho cộng sản. Một biển máu hứa hẹn dâng tràn. Và tổng thống Gerald Ford thản nhiên tuyên bố: “Lịch sử đã sang trang!”
Nếu có một sư đoàn bộ binh “phản loạn” bao vây Tòa Đại Sứ Mỹ, nghênh súng phòng không hạ trực thăng Mỹ, không cho đáp xuống, liệu lịch sử có sang trang dễ dàng?
TRUYỆN NGHE KỂ SAU 30-4-1975
Lịch sử thường làm nên bằng những bất ngờ. Lịch sử còn đãi ngộ những kẻ có duyên và hờ hững với những kẻ vô duyên. Người vô duyên nhất trong lịch sử hiện đại là cụ Nguyễn Hải Thần. ông Lý Thành Cầu, đại tá tình báo của quân đoàn Lư Hán, người đã theo tướng Tiêu Văn sang Việt Nam tước võ khí Nhật ở miền Bắc, người đã dẫn dắt Hồ Chí Minh gặp Tiêu Văn để hối lộ vàng cho Tiêu Văn rút Tầu phù về nước, khi vào tù cộng sản* , kể cho Doãn Quốc Sĩ, Hoàng Mạnh Hùng và tôi nghe rằng:
– Cụ Nguyễn Hải Thần làm thơ chữ Hán trác tuyệt, hay gấp bội thơ chữ Hán của cụ Hồ Chí Minh. Cụ mê thơ quên đại sự. Thống chế Tưởng Giới Thạch kính trọng cụ Nguyễn lắm, nhưng bận việc nước non, rất hiếm dịp tiếp cụ Nguyễn và nếu có dịp, chỉ tiếp được 15 phút. Cụ Nguyễn gặp Tưởng không bàn chuyện cứu nước, mà cứ khoe thơ, bình thơ mãi hết thì giờ.
Đó là nỗi vô duyên thứ nhất của cụ Nguyễn Hải Thần. Nỗi vô duyên thứ hai được nhà văn Trúc Sĩ, tác giả Kẽm trống khá hay, người đã tham dự ngày tổng khởi nghĩa 19-8-1945 tại vườn hoa Ba Đình, Hà Nội kể lại trong trường thiên tiểu thuyết Thét hận* . Theo Trúc Sĩ, cụ Nguyễn Hải Thần bôn ba sang Tầu trước Lý Đông A có vài năm mà cụ nói tiếng Việt không sõi nữa. Vì cụ ấp úng “tồng pào thân mến” nên Trần Huy Liệu mới dám vỗ vai cụ, mời cụ xuống đểà thao túng diễn đàn. Và quốc gia bị cộng sản chế ngự. Cộng sản cướp luôn công lao chiến đấu giành độc lập của các đảng phái quốc gia. Nỗi vô duyên thứ hai của cụ Nguyễn Hải Thần xứng đáng là bài học quý giá cho những ai mưu đo chuyện phục quốc, cho thế hệ trẻ trưởng thành tại quê người.
Vì vô duyên với lịch sử, cụ Nguyễn còn bị cộng sản ghép vào bộ ba bán nước Tam Thần Sâm (Nguyễn Tường Tam, Nguyễn Hải Thần, Nguyễn văn Sâm) và nhục mạ cụ bằng bài hát:
Nguyễn Hải Thần.
Nguyễn Hải Thần ông ơi,
ông ra đi từ 21. 22
ông ra đi sang nước Tầu buôn sái
vì sái thơm ông hy sinh cả một đời…
Và nhái ca dao Thằng Bờm:
Thằng Thần có cái Việt Nam
thực dân gạ đổi ngai vàng nhà vua
Thần rằng Thần chung lấy vua
thực dân gạ đổi ba cô nàng hầu…
……..
thực dân gạ đổi cơm đen Thần cười…
Người có duyên, dù thù hận cách mấy, dù không ưa một tí ti ông lão nào cả, người ta vẫn phải công nhận ông ta có duyên với lịch sử, là Hồ Chí Minh. Bất ngờ, về nước năm 1945, ông Hồ Chí Minh lơ thơ vài sợi râu. Và ông ta được suy tôn là “cha già dân tộc”, một cách lãng xẹt. Nguyễn Thanh Trịnh, nhà văn trẻ của tuần báo Tuổi Ngọc kể với tôi rằng, đã gặp Nguyễn Đình Thi, đã chất vấn bộ râu của “Bác Hồ” và được trả lời:
– Râu của Bác là cái may và còn là cái không may. Nếu 54 tuổi, cằm bác nhẵn thín, lịch sử đã có khúc rẽ:
Nguyễn Đình Thi không dám “diễn nghĩa”… cụ thể về mấy sợi râu lơ thơ tơ liễu buông mành của ông Hồ Chí Minh năm 1945. Cái may của ông Hồ nhờ râu. Cái không may của dân tộc vì râu của ông ta. ông Hồ Chí Minh khôn lỏi. Bí danh cuối cùng của ông chọn làm Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã chứng tỏ ông ta toan tính kỹ lưỡng. âm nhạc có bảy nốt. Hồ Chí Minh chiếm ba nốt êm ái. Hồ Chí Minh muôn năm thì ông ta chiếm 4 nốt. Mà Bác Hồ Chí Minh muôn năm là 5 nốt. Tình tính tinh: Hồ Chí Minh. ông Hồ Chí Minh đã đi giép râu, mặc quần áo đại cán, cầm que điều khiển giàn nhạc đại hòa tấu chơi bài Kết đoàn, có vẻ như ông ta rành âm nhạc. Ông ta gây dễ dàng cho các nhạc nô suy tôn ông và gây khó khăn cho các nhạc nô muốn suy tôn lãnh tụ kế nghiệp và lãnh tụ đối nghịch. Thí dụ: Tôn Đức Thắng, Đặng Xuân Khu, Lê Đức Thọ, Ngô Đình Diệm, Nguyễn văn Thiệu… Ti tì tị: Ngô Đình Diệm. Nghe không du dương. Tí ti tị: Nguyễn văn Thiệu. Càng chói lỗ tai. Tì tí ti: Hồ Chí Minh. Mê ly như hờ ly rút tinh tủy? Thế là ông Hồ Chí Minh có hàng trăm bài suy tôn công đức và sự nghiệp. ông ta xứng biệt danh Cáo Già.
Vì khôn lỏi, ông ta cố tình cấy râu ớ có râu lơ thơ. Nhờ râu lơ thơ, ông ta tự nhận mình là “cha già dân tộc,” là “Bác Hồ,” là “Cụ Hồ”. Cả nước gọi ông bằng Bác, bằng Cụ. ông ta, chó ngáp phải… râu, trở thành bác của nam phụ lão ấu? Nếu 1945 về nước “cướp chính quyền”, ông Hồ Chí Minh không có râu, ông ta sẽ bị miệt thị:
Đàn ông không râu bất nghì
Đàn bà không vú lấy gì nuôi con…
Ông ta chẳng bao giờ dám trơ trẽn để cho văn nô, thi nô, nhạc nô ví mình như “cha già dân tộc,” như Bác của nam phụ lão ấu, như Cụ… trong dân! Lịch sử đã có khúc rẽ. Ôi, vì vài sợi râu lơ thơ mà ông Hồ Chí Minh có duyên với lịch sử. Sự có duyên của ông ta đã khiến dân tộc đói khổ, ngu dốt, lạc hậu, thù hận, tù đầy. Và đó là trớ trêu của lịch sử. “Với một chữ nếu, người ta có thể bỏ Paris vào trong cái chai.” Nếu cụ Nguyễn Hải Thần nói giỏi tiếng Việt, Việt Minh đi về đâu từ 1 945? Nếu ông Hồ Chí Minh vô tù, dân tộc Việt Nam đi về đâu? Chắc chắn, không đi vào quỹ đạo cộng sản.
Đừng tưởng lịch sử sáng suốt. Lịch sử đã mù lòa chọn kẻ có duyên Hồ Chí Minh mà đãi ngộ. Nói cho hợp lý, muốn lịch sử mù lòa, những kẻ âm mưu lãnh tụ cần tua tủa thủ đoạn và biết hóa trang. Hồ Chí Minh chính là một trong những kẻ đó. Nhưng lịch sử không chỉ đãi ngộ những kẻ có duyên mà còn đãi ngộ những kẻ liều lĩnh đúng thời. Nguyễn Nhạc là biểu tượng của những kẻ liều lĩnh đúng thời. Kẻ phóng đãng đất Bình Khê, nhờ liều lĩnh mà dẫn lối cách mạng Tây Sơn để Nguyễn Huệ* mở đường đi tuyệt vời cho dân tộc. Nếu Nguyễn Nhạc không liều lĩnh, có nhà Tây Sơn không? Và nếu Nguyễn Nhạc không phóng đãng, Nguyễn Nhạc là Biện Nhạc hiền lành, có nhà Tây Sơn không?
***
Ông Đinh Xuân Cầu, tác giả Bên kia Bến Hải và Đôi kính, kể với tôi rằng:
-Lịch sử có thể thay đổi bằng một cú chơi bạo cuối cùng. Những người chống cộng quyết liệt đã vận động xong một sự hợp tác với một tiều đoàn nhẩy dù. Tiểu đoàn dù sẽ bao vây Toà Đại Sứ Mỹ, sẽ nhắm trực thăng mà hạ. Trực thăng không đáp xuống được đểà cứu ông đại sứ thì thủy quân lục chiến Mỹ phải đổ bộ vào cứu. Chúng ta lợi dụng cơ hội này hô hào chiến đấu vì Mỹ lại can thiệp thì quân đội sẽ lên tinh thần. Kế hoạch định vào sáng 30-4. Bất ngờ, 30-4, Dương văn Minh ban lịnh giới nghiêm. Quý vị đầu não của kế hoạch nản lòng, nằm nhà thở dài. Thế là lịch sử sang trang!
Cú chơi bạo cuối cùng sẽ ngoạn mục lắm. Người ta có thể mường tượng ra phản ứng của Mỹ. Nhất định, Thủy quân lục chiên Mỹ sẽ can thiệp. Chúng ta bắt Mỹ phải chơi trò chơi do chúng ta bầy ra. Chúng ta không cho “Mỹ cút”. “Mỹ đã trở lại.” Chỉ cần bốn tiếng đó cho một khoảnh khắc thế sự. Là có thay đổi lòng người. Là sẽ thay đổi mọi mặt. Nhưng vì thiếu liều lĩnh cần thiết, vì hèn nhát, những kẻ định níu kéo lịch sử đã nản lòng. Và lịch sử lạnh lùng sang trang như sự lạnh lùng của tuyên bố Ford. Và chúng ta có những khuôn mặt méo mó di tản hụt, từ nóc Tòa Đại Sứ Mỹ mò mẫm xuống sân, lếch thếch trên đường về…
CHƯƠNG 4
9 giờ. Tôi bảo Đặng Xuân Côn thả tôi xuống trước rạp Kinh Thành. Côn chạy về Phú Nhuận. Mình tôi đứng bên dãy phố Hai Bà Trưng nhìn sang vỉa hè bên kia, buổi sáng Tân Định. Chỗ đó, vài hôm trước, tôi vừa gặp anh Trần Kim Tuyến, sơ-mi bỏ ngoài, giép Nhật Bản, thất thểu đi.
-Anh đi đâu đấy, anh Tuyến?
– Đi đâu?
Ông Giám đốc Sở nghiên cứu chính trị, “tên trùm mật vụ ác ôn thời Diệm” – cộng sản nó gọi thế – thở dài.
– Chúng ta đã chống cộng. Riêng tôi thì cứ ngoác miệng đòi “chống cộng đến chiều.” Và rồi chúng ta hỏi nhau đi đâu. Anh sẽ đi đâu, anh Tuyến?
-Chẳng hiểu.
-Mỹ nó không đón anh à?
-Không. Còn cậu?
-Có lẽ cũng không. Người Mỹ dành ưu tiên số một cho me Mỹ, cho bọn tham nhũng, thối nát, cho đám làm giầu bằng chiến tranh.
-Cậu định đi đâu?
-Chẳng hiểu, anh ạ!
Không có lối chạy cho người chống cộng. Những kẻ chống cộng tự nguyện rất kiêu hãnh nhưng luôn luôn thiệt thòi. Tôi là một trong những kẻ ấy. Vì chống cộng tự nguyện, tôi không bị xếp vào hàng ngũ đầy tớ Mỹ. Đó là một thiệt thòi. Sự thiệt thòi nhìn rõ: Có cả chục ngàn chỗ cho những người chưa hề chống cộng trên máy bay di tản của Mỹ mà lại không có chỗ nào cho Doãn Quốc sĩ, Dương Nghiễm Mậu, Nhã Ca, Phan Nhật Nam, Thanh Tâm Tuyền… Trong cuốn Những tên biệt kích của chủ nghĩa thực dân mới trên mặt trận văn hóa – tư tưởng* , ở “Lời giới thiệu”, cộng sản viết: “… Một số người khác như Duyên Anh, Nhã Ca… chấp nhận chủ nghĩa chống cộng với một thái độ hoàn toàn tự nguyện. Nhưng nếu xét gốc rễ thái độ thù địch của họ đối với cách mạng, thái độ đó có nguyên nhân ở sự tác động của chủ nghĩa thực dân mới. Họ vừa là kẻ thù của cách mạng, của nhân dân. Nhưng nếu xét đến cùng họ cũng vừa là một nạn nhân của đường lối xâm lược tinh vi, xảo quyệt của Mỹ. Dù xét dưới tác động nào, hoạt động chống cộng bằng văn nghệ của đội ngũ những cây bút này cũng là những hoạt động có ý thức. Ý thức đó biểu hiệu trước hết trong thái độ chấp nhận trật tự xã hội thực dân mới, chống lại một cách điên cuồng chủ nghĩa cộng sản. Họ cho văn nghệ làm sự chọn lựa một phạm vi hoạt động, một phương tiện đểà đạt mục đích và tự nguyện dùng ngòi bút của mình phục vụ cho chế độ. Thái độ tự nguyện của họ cũng đã có nhiều người tự nói ra. Vũ Hoàng Chương tự ví mình là “viên gạch để xây bức tường thành ngăn sóng đỏ.” Doãn Quốc Sĩ coi mình như một “viên kim cương, răng cộng sản không sao nhá được.” Thêm một thiệt thòi. Và cái thiệt thòi cay đắng là bị cộng sản chụp cái mũ khả ố “chấp nhận trật tự xã hội thực dân mới”. Như thế, vẫn chưa đủ nghẹn ngào. Kẻ chống cộng tự nguyện còn bị những người tập sự chống cộng, bập bẹ chống cộng, vỡ lòng chống cộng, ngớ ngẩn chống cộng phán xét một cách dễ chửi thề. Hẳn nhiên, những kẻ chống cộng tự nguyện thường xuyên bị vây hãm, bị bêu nhục bởi bòn đầy tớ Mỹ chống cộng ở bất cứ lúc nào, bất cứ chỗ nào. Nhưng mà những kẻ chống cộng tự nguyện phải chấp nhận, hiên ngang chấp nhận và can đảm chống luôn cả bọn đầy tớ ngoại bang chống cộng, bọn làm thui chột niềm tin chống cộng, bọn giúp cộng sản đánh bóng chính nghĩa của nó, bọn ảo tưởng và thù vặt vì bất đồng quan điểm. Những kẻ chống cộng tự nguyện ngổn ngang kẻ thù. Ngoài cộng sản, họ còn bị đánh dấu tuyết hận bởi bè lũ thống trị tôi mọi, tập đoàn ăn cắp, thảo khẩu chính trị, lũ thời cơ chủ nghĩa, đám buôn bán Phật Chúa… Song cần chi, hai tiếng tự nguyện mà kẻ thù cộng sản khoác hoa quanh cổ họ cơ hồ hào quang đốt cháy mọi rác rưởi, bèo bọt thế thời. Và họ vẫn ngồi lên tất cả như đã ngồi lên tất cả những khuôn mặt sa-đích chính trị rẻ tiền.
– Anh có lối nào khác lối Mỹ không?
Tôi hỏi. Bác sĩ Trần Kim Tuyến lắc đầu buồn bã:
-Không.
Không. Chúng ta đã chống cộng sản hai mươi năm và chúng ta không có lối chạy trốn cộng sản! Tại sao tổ tiên chúng ta đã không tìm đường chạy trốn mà chỉ tìm chỗ tạm lui về chờ đợi tiến lên? Chắc chắn, tổ tiên chúng ta chống giặc nước một mình. Còn chúng ta, chúng ta chống giặc nước với người Mỹ. Chúng ta đã đổ xương máu cho KHÔNG. Và cái không ủ ê nhất là cái không lối chạy trốn giặc. Liệu chúng ta đã học được một điều gì trong bài học chống cộng sản với Mỹ rồi không còn lối chạy trốn cộng sản? Chỗ đó, vài hôm trước… Chỗ đó, hôm nay…
Tôi đã thất thểu bước tới ngã tư Hai Bà Trưng – Yên Đổ – Trần Quang Khải. Nỗi chết không còn ám ảnh mà nỗi chết hiện dần. Tự nhiên, tôi thèm sống vô cùng. “Thoát chết, bung ra được là mày nên người, Duyên Anh a! Đỗ Bá Thế đã phán vậy. Sự thèm sống khiến tôi quên sợ chết. Lạ quá, lúc đó, tôi chẳng hiểu nổi tôi. Phải nói, tôi chẳng hiểu nổi sự chuyển dịch tâm hồn tôi. Nếu tôi đã chưa biết cái cảm giác lênh đênh của tâm hồn thì, bây giờ, tôi biết. Biết rõ. Tâm hồn tôi lênh đênh theo bóng ngã hoàng hôn của cuộc chiến đấu hai mươi năm hư ảo. Lênh đênh chạy trốn. Lênh đênh bất bình chạy trốn. Lênh đênh sợ chết. Lênh đênh chờ chiến đấu. Lênh đênh thèm sống. Lênh đênh ước mơ.
Đi ngược đường Yên Đổ, tôi về nhà tôi.
***
Thành phố Sài gòn bất chấp lệnh giới nghiêm 24 trên 24 của Dương văn Minh. Thành phố này, hình như, cũng bất chấp cả nỗi ngậm ngùi sắp đến. Sài gòn thản nhiên chờ đợi niềm bất hạnh. Mặt trời vẫn chưa mọc. Có vẻ mặt trời không thích mọc hôm nay. Tôi buồn bã đứng trước cổng nhà mình ngó ngang, nhìn dọc. Bà bán thuốc lá sát cổng nhà tôi hớt hơ hớt hải từ dưới Xóm Lách chạy tới chỗ tôi:
-Cậu không đi được à?
– Không.
-Liệu người ta có để cậu yên không?
– Ai?
– Thì… Việt cộng?
Bà ta nói nhỏ:
– Cậu ạ, người ta vây kín Sài gòn rồi!
Tôi thở hắt ra:
– Thế à?
Nhìn bà bán thuốc lá, tôi hỏi:
– Sao bữa nay bà không bán?
– Tôi tưởng giới nghiêm.
– Chứ không phải mệt vì đêm qua lo hôi đồ à?
– Tôi thề với cậu, không quen làm việc ấy.
– Làm thì đã sao, của Mỹ chứ bộ.
– Mà không quen.
Tôi nhìn thẳng vào mặt bà ta:
– Việt cộng vào, bà có để tôi yên không?
Bà ta chớp mắt lia lịa:
-Tôi mong cậu đi lọt mà.
Từ người vô sản bán thuốc lá, tôi quan sát những người vô sản Xóm Lách quanh tôi. Tất cả đều còn cho tôi những nụ cười, những ánh mắt chứa chan tình cảm. Tôi yên tâm. Đã quá hiểu những bài học căm thù của cộng sản, tôi sợ rằng những nụ cười, những ánh mắt chứa chan tình cảm của người vô sản Xóm Lách sẽ biến mất. Chưa biết bao giờ. Có thể lát nữa. Có thể trưa nay. Có thể chiều nay. Có thể tối nay.
-Bà Tẹo.
-Dạ.
– Tôi đã làm phiền bà điều gì chưa?
– Sao cậu hỏi vậy?
– Bởi vì sẽ thay đổi nhiều đấy.
– Không có gì thay đổi đâu cậu ạ? Tôi vẫn bán thuốc lá trước cổng nhà cậu, vẫn xin được bán thiếu cho cậu để cuối tháng có món tiền để dành lớn.
-Cám ơn bà.
Tôi bấm chuông. Nhà tôi ra mở cổng:
– Thế nào, bố?
-Thế nào là thế nào?
– Còn nước tát không?
– Cạn rồi. Mỹ thật sự cút rồi. Nhưng em yên tâm. Bằng hữu của chúng ta còn ở lại khá đông. Anh đã gặp Mai Thảo, Nguyễn Tuấn Anh…
Nhà tôi nín thinh. Tôi vào, gieo người xuống ghế bành, gác chân lên bàn xa-lông. Tôi cảm giác căn nhà của gia đình tôi đã trở thành cái nghĩa địa hoang vắng. Nỗi hiu quạnh đùn lên, đùn lên, dâng ngập trắng xóa. Lần đầu tiên trong đời, tôi nhìn rõ cái lẽ phù ảo của đời sống. Nhờ vậy, tôi thanh thản dọn chết. Và tôi còn dọn thêm cả sự “thoát chết, bung ra.” Nếu lúc này có Mai Thảo ngồi đấu hót? Tôi trách tôi đã quên rủ Mai Thảo đi nhìn Sài gòn hấp hối và rủ Mai Thảo về nhà tôi uống rượu. Tôi vẫn còn vài chai Table du roi. Tôi nhớ, mới đây thôi, Mai Thảo tâm sự với tôi:
– Tôi ở một nơi chốn nào là lòng gửi nơi chốn đó nên xa một nơi chốn là nhớ vô cùng, dẫu nơi chốn cũ chẳng xa gì nơi chốn mới. Thật sự, tôi không thích di tản. Xa quá, xa quá…
Và Mai Thảo rất lừng khừng chuyện ra đi- Anh ta cứ ra, theo triết lý cù nhầy của Nguyễn Bính “ngày mai ra sao rồi hãy hay.” Mai Thảo tâm sự tiếp:
– Tôi có ông thày học khá lạ lùng. ông ta đã nói với tôi rằng, người ta chỉ cần sống đến 50 tuổi. Là đủ rồi. Tôi đã 50 tuổi. Sống thêm có lẽ thừa thãi.
Mai Thảo đã 50 tuổi. Tôi mới 40. Cho nên, dù đã vỡ lẽ phù ảo của cuộc đời, Cứ thèm thuồng “thoát chết, bung ra” trong những giờ phút dọn chết.
***
10 giờ thiếu 10 phút. Chuông điện thoại reo vang:
-Long hả?
– Ừ!
– Chúng nó xuất hiện ở Xóm Gà, Gò Vấp rồi. Trên ấy ra sao?
-Im lặng.
-Mày nghĩ xem có nên chở gia đình lên bà Nguyễn Đình Vượng tránh né cảnh tranh tối tranh sáng không?
-Không cần.
-Tại sao không cần?
– Vì bà Vượng cũng bị ném vào biển máu! Nếu ông muốn cùng chết với tôi thì lên đây.
Đặng Xuân Côn, Thằng Côn, người bạn ấu thời của tôi, người bạn đã, cơ hồ cái bóng, theo sát tôi 30 năm ròng rã, đã chia xẻ vinh nhục với tôi, đã đau khổ vì tôi, đã ôm đau khổ của tôi làm đau khổ của mình. Chúng tôi học tiểu học ở trường Monguillot thị xã Thái Bình. Côn là cháu đích tôn của cụ Đặng Đình Điền, tự Hào Điển, một trong những lãnh tụ Việt Nam quốc dân đảng. Năm 1951, sau khi cộng sản quy định thành phần, giai cấp, mặc dù đã mù lòa, bệnh hoạn, cộng sản vẫn bắt cụ Hào Điển, bỏ cụ vào cái rổ xề, khiêng cụ ra giữa cánh đồng hoang vắng và để cụ chết đói chết khát ở đó. Qua mấy năm tao loạn, chúng tôi lại gặp nhau ở thị xã Thái Bình đổ nát vì tiêu thổ kháng chiến. Tình bạn vẫn khắng khít. Chúng tôi học trung học tại trường Trần Lãm và không ngớt tương tư thị xã đềm êm cũ với những hàng hồi thơm hăng hắc dọc vỉa hè đường phố. Rồi chúng tôi lên Hà Nội trọ học. Mùa hè 1954, tôi về Thái bị kẹt vì Pháp “di tản chiến thuật”. Tôi ở lại chứng kiến quân cách mạng tiếp thu Thái Bình. Rồi hội nhập đời sống mới.
Cuối tháng 7-1954, Côn trở lại Thái với nhiều ưu tư. Nó không hé miệng nói cho tôi nghe những ưu tư của nó. Chúng tôi thường lên cầu Bo ngắm dòng sông Trà Lý đỏ ngầu phù sa mùa nước lũ. Cầu Bo. cây cầu kỷ niệm của chúng tôi, bị quân Pháp đánh sập nhịp giữa trước đêm rút lui. Người ta bắc cầu giây đi tạm. Côn ở Thái hai tuần lễ và lỉnh tránh mọi công tác… cách mạng. Một buổi sáng nó tìm tôi khi tôi đang bận kê bàn ghế cho lớp học dạy “công nhân” vỡ lòng quốc ngữ. Côn rủ tôi sang Nam Định chơi. Tôi từ chối, vì… công tác khẩn trương. Tôi bảo Côn đợi vài hôm nữa. Nó bỏ về. Rồi nó sang Nam Định lúc nào tôi không rõ. Cuối tháng 8-1954, Nguyễn Thịnh từ Hà Nội về Thái. Tôi hỏi thăm Côn. Thịnh nói Côn đã vào Sài gòn..
Tôi choáng váng. Côn đã nghi ngờ tôi theo… cách mạng, không dám tâm sự với tôi. Tôi vội vàng chuồn lên Hà Nội, kiếm nhà Vũ Thượng Văn ở phố Hàng Bông Thợ Nhuộm, hỏi thăm đia chỉ Côn tại Sài gòn. Tiêu pha hết đồng bạc cuối cùng ở Hà Nội, cuối tháng 9-1954 tôi mới vào Sài gòn, đến phố Heurtaux bên Khánh Hội tìm Côn. Thế là chúng tôi có tháng ngày nhà hát Tây ba đào, có tình yêu lẩm cẩm, có Đỗ Tiến Đức, Hà Huyền Chi… Chúng tôi thêm những kỷ niệm cay đắng vào đời. Sự nghiệp văn chương của tôi, phần lớn, là do Thằng Côn đóng góp. Bằng khích lệ. Bằng cả những đồng tiền mồ hôi của nó. Tập truyện Hoa thiên I)” của tôi, Côn bỏ tiền xuất bản. Nếu có lần nào đền ơn Thằng Côn thì chỉ một lần Thằng Vũ nghiến răng chịu nhục, chịu hành hạ cả thể xác lẫn tâm hồn để ngậm miệng cho Thằng Côn bình yên ngoài nhà tù mà tìm cách đưa vợ con trốn khỏi Việt Nam. Đáng lẽ, Côn ra đi bình yên trước 30-4-75, nó cứ bám sát tôi Cho đến phút chót, nó vẫn lo tôi bị tàn sát trước nhất.
– Tao nghĩ mày nên đưa vợ con lỉnh chỗ khác.
-Chỗ nào? Không còn chỗ nào cho tôi ẩn thân cả. Mà tôi cũng cóc cần ẩn thân nữa.
– Mày đừng chướng.
-Cúp điện thoại đi!
Tôi cúp trước, khỏi cần đợi Côn.
***
10 giờ 20 phút. Chuông điện thoại lại reo:
– Long hả?
– Ừ!
– Chúng nó đã lảng vảng khu nhà anh Hoàng văn Đức rồi. Tao lên mày nhé?
– Hỏi chi nữa!
Tôi cúp điện thoại ngay. Và, thật sự, kể từ phút này, tôi đã té nhào khói lãng du lênh đênh trên ước mơ, tôi hết dám thèm “thoát chết, bung ra.” Tôi sợ hãi. Tôi trở về với sự sợ hãi 0 giờ 1 phút. Nỗi chết gần kề. Đao phủ và hình cụ của nó đang chờ tôi bên bờ biển máu. Làm thế nào đểà con người được chết ngon lành? Tôi chợt nhớ một truyện ngắn của Jack London, nhan đề Mất mặt. viết về sự dọn chết tuyệt vời của một người không thích chết đau đớn, sợ hãi chết khắc khoải. Câu chuyện như thế này: Một gã phiêu lưu da trắng lạc vào một bộ lạc hung dữ nhất của một vùng Bắc cực. Các bộ lạc ở đây đánh giá trị vĩ đại nhất bằng sự tàn ác nhất. Bộ lạc nào giết kẻ thù chết từng giây, chết đếm nỗi chết từng giây, chết quằn quại, rên la lâu nhất, bộ lạc ấy được tôn vinh và công nhận là minh chủ. Thế thì gã phiêu lưu của Jack London đã rơi vào tay bộ lạc minh chủ. Gã hiểu gã sẽ bị chết co rút mỗi tế bào. Gã cũng hiểu những kẻ tàn ác nhất đều là những kẻ thèm sống “muôn năm”, thèm bất tử, nên gã xin được kéo dài ngày chịu tội để kiếm lá luyện thuốc bất tử. Môn thuốc này bôi khắp mình mẩy, tên bắn vào văng ra, búa bổ xuống nẩy tung, lao phóng trúng cong oằn… Tù trưởng của bộ lạc minh chủ sướng quá, bèn cho gã phiêu lưu đi tìm lá. Gã khôn ngoan, luyện thuốc bất tử thật lâu. Khi đã luyện xong, gã yêu cầu vị tù trưởng thử. Vị tù trưởng sợ, không dám thử. Không ai trong bộ lạc dám thử cả. Tất cả những kẻ hung ác đều sợ chết thảm và đều thích người khác chết thảm. Cuối cùng, gã phiêu lưu tình nguyện thí nghiệm thuốc bất tử của mình. Bộ lạc đồng ý. Gã yêu cầu kê cổ gã trên một 1 húc gỗ tròn và chắc và phải dùng một cái búa sắc như nước do tay lực lưỡng xử dụng. Gã bôi thuốc đầy cổ. Rồi gã dục hạ búa. Nhát búa vung lên, bổ mạnh xuống. Gã phiêu lưu bay đầu. Gã được chết ngon lành. Bộ lạc minh chủ mất mặt, mất ngôi minh chủ và bị các bộ hạ khác khinh bỉ, vì đã để kẻ thù chết sung sướng, chết thanh, chết gọn…
Cộng sản ác hơn và khôn ngoan hơn bộ lạc minh chủ bị mất mặt trong truyện ngắn của Jack London. Và tôi, tôi không có can đảm dọn cho mình cái chết ngon lành. Tôi sợ luôn cả cái chết ngon lành, cái chết của chiến sĩ, cái chết của liệt sĩ, cái chết của thánh tử đạo. Rốt cuộc, tôi thèm sống, sợ chết. Bởi tôi vừa nhận ra tôi đích thực rằng tôi chỉ là nghệ sĩ. Tôi cần sống sót. “Cậu là nhà văn, cần buôn kinh nghiệm mà bán.” Cao Dao khuyên tôi thế. Tôi cần sống sót. “Thoát chết, bung ra được là mày nên người, Duyên Anh ạ”? Đỗ Bá Thế dạy tôi thé. Nhà văn không cần thiết tử vì đạo. Vì y vô đạo. Nhà văn không cần thiết tuẫn tiết. Vì y tuẫn tiết sẽ chẳng còn ai sống để viết về những cái chết đẹp trong cõi đời. Nhà văn cần thiết có tác phẩm, và phải là tác phẩm rực rỡ kinh qua mọi sợ hãi, mọi thống khổ mỏi mòn. Nhà văn là người viết về sự sống ngoạn mục, nỗi chết phi thường của người khác, không bao giờ là kẻ trông đợi người khác viết về cái chết, nỗi chết của mình. Do đó, nhà văn bất chấp những kẻ bỉ thử mình, lăng mạ mình đủ điều về sự sống của mình. Rất tự hào và đủ quyền kiêu hãnh để nói, những kẻ bỉ thử, lăng nhục nhà văn là những kẻ không biết viết hay viết chẳng ra gì. Những kẻ này không bao giờ được phục sinh, bởi vì họ không hề có một cái gì đểà lại cho đời sống kế tiếp. Tôi là nhà văn, tôi chẳng lấy gì làm xấu hổ mà công khai nhận mình thèm sống sợ chết. Tôi đã bày tỏ thái độ của tôi rõ rệt trong bài Chút tâm sự của người làm thơ trong tù. Theo tôi, sự tồn tại khác hẳn với sự sống. Tôi chưa thấy một nhà văn chuyên nghiệp nào – nhà văn nuôi mình, nuôi vợ con mình bằng hàng tỉ chữ thao thức viết – khi chết được vinh tôn như một anh hùng, liệt sĩ. Người ta đã chỉ vinh tôn tác phẩm của nhà văn. Tôi cũng chưa thấy ai nhận trách nhiệm nuôi vợ con nhà văn, nuôi nhà văn cả, nhưng người ta cứ bắt nhà văn phải có đủ thứ trách nhiệm, đủ thứ đạo đức, đủ thứ can đảm. ..
9 giờ. Tôi bảo Đặng Xuân Côn thả tôi xuống trước rạp Kinh Thành. Côn chạy về Phú Nhuận. Mình tôi đứng bên dãy phố Hai Bà Trưng nhìn sang vỉa hè bên kia, buổi sáng Tân Định. Chỗ đó, vài hôm trước, tôi vừa gặp anh Trần Kim Tuyến, sơ-mi bỏ ngoài, giép Nhật Bản, thất thểu đi.
-Anh đi đâu đấy, anh Tuyến?
– Đi đâu?
Ông Giám đốc Sở nghiên cứu chính trị, “tên trùm mật vụ ác ôn thời Diệm” – cộng sản nó gọi thế – thở dài.
– Chúng ta đã chống cộng. Riêng tôi thì cứ ngoác miệng đòi “chống cộng đến chiều.” Và rồi chúng ta hỏi nhau đi đâu. Anh sẽ đi đâu, anh Tuyến?
-Chẳng hiểu.
-Mỹ nó không đón anh à?
-Không. Còn cậu?
-Có lẽ cũng không. Người Mỹ dành ưu tiên số một cho me Mỹ, cho bọn tham nhũng, thối nát, cho đám làm giầu bằng chiến tranh.
-Cậu định đi đâu?
-Chẳng hiểu, anh ạ!
Không có lối chạy cho người chống cộng. Những kẻ chống cộng tự nguyện rất kiêu hãnh nhưng luôn luôn thiệt thòi. Tôi là một trong những kẻ ấy. Vì chống cộng tự nguyện, tôi không bị xếp vào hàng ngũ đầy tớ Mỹ. Đó là một thiệt thòi. Sự thiệt thòi nhìn rõ: Có cả chục ngàn chỗ cho những người chưa hề chống cộng trên máy bay di tản của Mỹ mà lại không có chỗ nào cho Doãn Quốc sĩ, Dương Nghiễm Mậu, Nhã Ca, Phan Nhật Nam, Thanh Tâm Tuyền… Trong cuốn Những tên biệt kích của chủ nghĩa thực dân mới trên mặt trận văn hóa – tư tưởng* , ở “Lời giới thiệu”, cộng sản viết: “… Một số người khác như Duyên Anh, Nhã Ca… chấp nhận chủ nghĩa chống cộng với một thái độ hoàn toàn tự nguyện. Nhưng nếu xét gốc rễ thái độ thù địch của họ đối với cách mạng, thái độ đó có nguyên nhân ở sự tác động của chủ nghĩa thực dân mới. Họ vừa là kẻ thù của cách mạng, của nhân dân. Nhưng nếu xét đến cùng họ cũng vừa là một nạn nhân của đường lối xâm lược tinh vi, xảo quyệt của Mỹ. Dù xét dưới tác động nào, hoạt động chống cộng bằng văn nghệ của đội ngũ những cây bút này cũng là những hoạt động có ý thức. Ý thức đó biểu hiệu trước hết trong thái độ chấp nhận trật tự xã hội thực dân mới, chống lại một cách điên cuồng chủ nghĩa cộng sản. Họ cho văn nghệ làm sự chọn lựa một phạm vi hoạt động, một phương tiện đểà đạt mục đích và tự nguyện dùng ngòi bút của mình phục vụ cho chế độ. Thái độ tự nguyện của họ cũng đã có nhiều người tự nói ra. Vũ Hoàng Chương tự ví mình là “viên gạch để xây bức tường thành ngăn sóng đỏ.” Doãn Quốc Sĩ coi mình như một “viên kim cương, răng cộng sản không sao nhá được.” Thêm một thiệt thòi. Và cái thiệt thòi cay đắng là bị cộng sản chụp cái mũ khả ố “chấp nhận trật tự xã hội thực dân mới”. Như thế, vẫn chưa đủ nghẹn ngào. Kẻ chống cộng tự nguyện còn bị những người tập sự chống cộng, bập bẹ chống cộng, vỡ lòng chống cộng, ngớ ngẩn chống cộng phán xét một cách dễ chửi thề. Hẳn nhiên, những kẻ chống cộng tự nguyện thường xuyên bị vây hãm, bị bêu nhục bởi bòn đầy tớ Mỹ chống cộng ở bất cứ lúc nào, bất cứ chỗ nào. Nhưng mà những kẻ chống cộng tự nguyện phải chấp nhận, hiên ngang chấp nhận và can đảm chống luôn cả bọn đầy tớ ngoại bang chống cộng, bọn làm thui chột niềm tin chống cộng, bọn giúp cộng sản đánh bóng chính nghĩa của nó, bọn ảo tưởng và thù vặt vì bất đồng quan điểm. Những kẻ chống cộng tự nguyện ngổn ngang kẻ thù. Ngoài cộng sản, họ còn bị đánh dấu tuyết hận bởi bè lũ thống trị tôi mọi, tập đoàn ăn cắp, thảo khẩu chính trị, lũ thời cơ chủ nghĩa, đám buôn bán Phật Chúa… Song cần chi, hai tiếng tự nguyện mà kẻ thù cộng sản khoác hoa quanh cổ họ cơ hồ hào quang đốt cháy mọi rác rưởi, bèo bọt thế thời. Và họ vẫn ngồi lên tất cả như đã ngồi lên tất cả những khuôn mặt sa-đích chính trị rẻ tiền.
– Anh có lối nào khác lối Mỹ không?
Tôi hỏi. Bác sĩ Trần Kim Tuyến lắc đầu buồn bã:
-Không.
Không. Chúng ta đã chống cộng sản hai mươi năm và chúng ta không có lối chạy trốn cộng sản! Tại sao tổ tiên chúng ta đã không tìm đường chạy trốn mà chỉ tìm chỗ tạm lui về chờ đợi tiến lên? Chắc chắn, tổ tiên chúng ta chống giặc nước một mình. Còn chúng ta, chúng ta chống giặc nước với người Mỹ. Chúng ta đã đổ xương máu cho KHÔNG. Và cái không ủ ê nhất là cái không lối chạy trốn giặc. Liệu chúng ta đã học được một điều gì trong bài học chống cộng sản với Mỹ rồi không còn lối chạy trốn cộng sản? Chỗ đó, vài hôm trước… Chỗ đó, hôm nay…
Tôi đã thất thểu bước tới ngã tư Hai Bà Trưng – Yên Đổ – Trần Quang Khải. Nỗi chết không còn ám ảnh mà nỗi chết hiện dần. Tự nhiên, tôi thèm sống vô cùng. “Thoát chết, bung ra được là mày nên người, Duyên Anh a! Đỗ Bá Thế đã phán vậy. Sự thèm sống khiến tôi quên sợ chết. Lạ quá, lúc đó, tôi chẳng hiểu nổi tôi. Phải nói, tôi chẳng hiểu nổi sự chuyển dịch tâm hồn tôi. Nếu tôi đã chưa biết cái cảm giác lênh đênh của tâm hồn thì, bây giờ, tôi biết. Biết rõ. Tâm hồn tôi lênh đênh theo bóng ngã hoàng hôn của cuộc chiến đấu hai mươi năm hư ảo. Lênh đênh chạy trốn. Lênh đênh bất bình chạy trốn. Lênh đênh sợ chết. Lênh đênh chờ chiến đấu. Lênh đênh thèm sống. Lênh đênh ước mơ.
Đi ngược đường Yên Đổ, tôi về nhà tôi.
***
Thành phố Sài gòn bất chấp lệnh giới nghiêm 24 trên 24 của Dương văn Minh. Thành phố này, hình như, cũng bất chấp cả nỗi ngậm ngùi sắp đến. Sài gòn thản nhiên chờ đợi niềm bất hạnh. Mặt trời vẫn chưa mọc. Có vẻ mặt trời không thích mọc hôm nay. Tôi buồn bã đứng trước cổng nhà mình ngó ngang, nhìn dọc. Bà bán thuốc lá sát cổng nhà tôi hớt hơ hớt hải từ dưới Xóm Lách chạy tới chỗ tôi:
-Cậu không đi được à?
– Không.
-Liệu người ta có để cậu yên không?
– Ai?
– Thì… Việt cộng?
Bà ta nói nhỏ:
– Cậu ạ, người ta vây kín Sài gòn rồi!
Tôi thở hắt ra:
– Thế à?
Nhìn bà bán thuốc lá, tôi hỏi:
– Sao bữa nay bà không bán?
– Tôi tưởng giới nghiêm.
– Chứ không phải mệt vì đêm qua lo hôi đồ à?
– Tôi thề với cậu, không quen làm việc ấy.
– Làm thì đã sao, của Mỹ chứ bộ.
– Mà không quen.
Tôi nhìn thẳng vào mặt bà ta:
– Việt cộng vào, bà có để tôi yên không?
Bà ta chớp mắt lia lịa:
-Tôi mong cậu đi lọt mà.
Từ người vô sản bán thuốc lá, tôi quan sát những người vô sản Xóm Lách quanh tôi. Tất cả đều còn cho tôi những nụ cười, những ánh mắt chứa chan tình cảm. Tôi yên tâm. Đã quá hiểu những bài học căm thù của cộng sản, tôi sợ rằng những nụ cười, những ánh mắt chứa chan tình cảm của người vô sản Xóm Lách sẽ biến mất. Chưa biết bao giờ. Có thể lát nữa. Có thể trưa nay. Có thể chiều nay. Có thể tối nay.
-Bà Tẹo.
-Dạ.
– Tôi đã làm phiền bà điều gì chưa?
– Sao cậu hỏi vậy?
– Bởi vì sẽ thay đổi nhiều đấy.
– Không có gì thay đổi đâu cậu ạ? Tôi vẫn bán thuốc lá trước cổng nhà cậu, vẫn xin được bán thiếu cho cậu để cuối tháng có món tiền để dành lớn.
-Cám ơn bà.
Tôi bấm chuông. Nhà tôi ra mở cổng:
– Thế nào, bố?
-Thế nào là thế nào?
– Còn nước tát không?
– Cạn rồi. Mỹ thật sự cút rồi. Nhưng em yên tâm. Bằng hữu của chúng ta còn ở lại khá đông. Anh đã gặp Mai Thảo, Nguyễn Tuấn Anh…
Nhà tôi nín thinh. Tôi vào, gieo người xuống ghế bành, gác chân lên bàn xa-lông. Tôi cảm giác căn nhà của gia đình tôi đã trở thành cái nghĩa địa hoang vắng. Nỗi hiu quạnh đùn lên, đùn lên, dâng ngập trắng xóa. Lần đầu tiên trong đời, tôi nhìn rõ cái lẽ phù ảo của đời sống. Nhờ vậy, tôi thanh thản dọn chết. Và tôi còn dọn thêm cả sự “thoát chết, bung ra.” Nếu lúc này có Mai Thảo ngồi đấu hót? Tôi trách tôi đã quên rủ Mai Thảo đi nhìn Sài gòn hấp hối và rủ Mai Thảo về nhà tôi uống rượu. Tôi vẫn còn vài chai Table du roi. Tôi nhớ, mới đây thôi, Mai Thảo tâm sự với tôi:
– Tôi ở một nơi chốn nào là lòng gửi nơi chốn đó nên xa một nơi chốn là nhớ vô cùng, dẫu nơi chốn cũ chẳng xa gì nơi chốn mới. Thật sự, tôi không thích di tản. Xa quá, xa quá…
Và Mai Thảo rất lừng khừng chuyện ra đi- Anh ta cứ ra, theo triết lý cù nhầy của Nguyễn Bính “ngày mai ra sao rồi hãy hay.” Mai Thảo tâm sự tiếp:
– Tôi có ông thày học khá lạ lùng. ông ta đã nói với tôi rằng, người ta chỉ cần sống đến 50 tuổi. Là đủ rồi. Tôi đã 50 tuổi. Sống thêm có lẽ thừa thãi.
Mai Thảo đã 50 tuổi. Tôi mới 40. Cho nên, dù đã vỡ lẽ phù ảo của cuộc đời, Cứ thèm thuồng “thoát chết, bung ra” trong những giờ phút dọn chết.
***
10 giờ thiếu 10 phút. Chuông điện thoại reo vang:
-Long hả?
– Ừ!
– Chúng nó xuất hiện ở Xóm Gà, Gò Vấp rồi. Trên ấy ra sao?
-Im lặng.
-Mày nghĩ xem có nên chở gia đình lên bà Nguyễn Đình Vượng tránh né cảnh tranh tối tranh sáng không?
-Không cần.
-Tại sao không cần?
– Vì bà Vượng cũng bị ném vào biển máu! Nếu ông muốn cùng chết với tôi thì lên đây.
Đặng Xuân Côn, Thằng Côn, người bạn ấu thời của tôi, người bạn đã, cơ hồ cái bóng, theo sát tôi 30 năm ròng rã, đã chia xẻ vinh nhục với tôi, đã đau khổ vì tôi, đã ôm đau khổ của tôi làm đau khổ của mình. Chúng tôi học tiểu học ở trường Monguillot thị xã Thái Bình. Côn là cháu đích tôn của cụ Đặng Đình Điền, tự Hào Điển, một trong những lãnh tụ Việt Nam quốc dân đảng. Năm 1951, sau khi cộng sản quy định thành phần, giai cấp, mặc dù đã mù lòa, bệnh hoạn, cộng sản vẫn bắt cụ Hào Điển, bỏ cụ vào cái rổ xề, khiêng cụ ra giữa cánh đồng hoang vắng và để cụ chết đói chết khát ở đó. Qua mấy năm tao loạn, chúng tôi lại gặp nhau ở thị xã Thái Bình đổ nát vì tiêu thổ kháng chiến. Tình bạn vẫn khắng khít. Chúng tôi học trung học tại trường Trần Lãm và không ngớt tương tư thị xã đềm êm cũ với những hàng hồi thơm hăng hắc dọc vỉa hè đường phố. Rồi chúng tôi lên Hà Nội trọ học. Mùa hè 1954, tôi về Thái bị kẹt vì Pháp “di tản chiến thuật”. Tôi ở lại chứng kiến quân cách mạng tiếp thu Thái Bình. Rồi hội nhập đời sống mới.
Cuối tháng 7-1954, Côn trở lại Thái với nhiều ưu tư. Nó không hé miệng nói cho tôi nghe những ưu tư của nó. Chúng tôi thường lên cầu Bo ngắm dòng sông Trà Lý đỏ ngầu phù sa mùa nước lũ. Cầu Bo. cây cầu kỷ niệm của chúng tôi, bị quân Pháp đánh sập nhịp giữa trước đêm rút lui. Người ta bắc cầu giây đi tạm. Côn ở Thái hai tuần lễ và lỉnh tránh mọi công tác… cách mạng. Một buổi sáng nó tìm tôi khi tôi đang bận kê bàn ghế cho lớp học dạy “công nhân” vỡ lòng quốc ngữ. Côn rủ tôi sang Nam Định chơi. Tôi từ chối, vì… công tác khẩn trương. Tôi bảo Côn đợi vài hôm nữa. Nó bỏ về. Rồi nó sang Nam Định lúc nào tôi không rõ. Cuối tháng 8-1954, Nguyễn Thịnh từ Hà Nội về Thái. Tôi hỏi thăm Côn. Thịnh nói Côn đã vào Sài gòn..
Tôi choáng váng. Côn đã nghi ngờ tôi theo… cách mạng, không dám tâm sự với tôi. Tôi vội vàng chuồn lên Hà Nội, kiếm nhà Vũ Thượng Văn ở phố Hàng Bông Thợ Nhuộm, hỏi thăm đia chỉ Côn tại Sài gòn. Tiêu pha hết đồng bạc cuối cùng ở Hà Nội, cuối tháng 9-1954 tôi mới vào Sài gòn, đến phố Heurtaux bên Khánh Hội tìm Côn. Thế là chúng tôi có tháng ngày nhà hát Tây ba đào, có tình yêu lẩm cẩm, có Đỗ Tiến Đức, Hà Huyền Chi… Chúng tôi thêm những kỷ niệm cay đắng vào đời. Sự nghiệp văn chương của tôi, phần lớn, là do Thằng Côn đóng góp. Bằng khích lệ. Bằng cả những đồng tiền mồ hôi của nó. Tập truyện Hoa thiên I)” của tôi, Côn bỏ tiền xuất bản. Nếu có lần nào đền ơn Thằng Côn thì chỉ một lần Thằng Vũ nghiến răng chịu nhục, chịu hành hạ cả thể xác lẫn tâm hồn để ngậm miệng cho Thằng Côn bình yên ngoài nhà tù mà tìm cách đưa vợ con trốn khỏi Việt Nam. Đáng lẽ, Côn ra đi bình yên trước 30-4-75, nó cứ bám sát tôi Cho đến phút chót, nó vẫn lo tôi bị tàn sát trước nhất.
– Tao nghĩ mày nên đưa vợ con lỉnh chỗ khác.
-Chỗ nào? Không còn chỗ nào cho tôi ẩn thân cả. Mà tôi cũng cóc cần ẩn thân nữa.
– Mày đừng chướng.
-Cúp điện thoại đi!
Tôi cúp trước, khỏi cần đợi Côn.
***
10 giờ 20 phút. Chuông điện thoại lại reo:
– Long hả?
– Ừ!
– Chúng nó đã lảng vảng khu nhà anh Hoàng văn Đức rồi. Tao lên mày nhé?
– Hỏi chi nữa!
Tôi cúp điện thoại ngay. Và, thật sự, kể từ phút này, tôi đã té nhào khói lãng du lênh đênh trên ước mơ, tôi hết dám thèm “thoát chết, bung ra.” Tôi sợ hãi. Tôi trở về với sự sợ hãi 0 giờ 1 phút. Nỗi chết gần kề. Đao phủ và hình cụ của nó đang chờ tôi bên bờ biển máu. Làm thế nào đểà con người được chết ngon lành? Tôi chợt nhớ một truyện ngắn của Jack London, nhan đề Mất mặt. viết về sự dọn chết tuyệt vời của một người không thích chết đau đớn, sợ hãi chết khắc khoải. Câu chuyện như thế này: Một gã phiêu lưu da trắng lạc vào một bộ lạc hung dữ nhất của một vùng Bắc cực. Các bộ lạc ở đây đánh giá trị vĩ đại nhất bằng sự tàn ác nhất. Bộ lạc nào giết kẻ thù chết từng giây, chết đếm nỗi chết từng giây, chết quằn quại, rên la lâu nhất, bộ lạc ấy được tôn vinh và công nhận là minh chủ. Thế thì gã phiêu lưu của Jack London đã rơi vào tay bộ lạc minh chủ. Gã hiểu gã sẽ bị chết co rút mỗi tế bào. Gã cũng hiểu những kẻ tàn ác nhất đều là những kẻ thèm sống “muôn năm”, thèm bất tử, nên gã xin được kéo dài ngày chịu tội để kiếm lá luyện thuốc bất tử. Môn thuốc này bôi khắp mình mẩy, tên bắn vào văng ra, búa bổ xuống nẩy tung, lao phóng trúng cong oằn… Tù trưởng của bộ lạc minh chủ sướng quá, bèn cho gã phiêu lưu đi tìm lá. Gã khôn ngoan, luyện thuốc bất tử thật lâu. Khi đã luyện xong, gã yêu cầu vị tù trưởng thử. Vị tù trưởng sợ, không dám thử. Không ai trong bộ lạc dám thử cả. Tất cả những kẻ hung ác đều sợ chết thảm và đều thích người khác chết thảm. Cuối cùng, gã phiêu lưu tình nguyện thí nghiệm thuốc bất tử của mình. Bộ lạc đồng ý. Gã yêu cầu kê cổ gã trên một 1 húc gỗ tròn và chắc và phải dùng một cái búa sắc như nước do tay lực lưỡng xử dụng. Gã bôi thuốc đầy cổ. Rồi gã dục hạ búa. Nhát búa vung lên, bổ mạnh xuống. Gã phiêu lưu bay đầu. Gã được chết ngon lành. Bộ lạc minh chủ mất mặt, mất ngôi minh chủ và bị các bộ hạ khác khinh bỉ, vì đã để kẻ thù chết sung sướng, chết thanh, chết gọn…
Cộng sản ác hơn và khôn ngoan hơn bộ lạc minh chủ bị mất mặt trong truyện ngắn của Jack London. Và tôi, tôi không có can đảm dọn cho mình cái chết ngon lành. Tôi sợ luôn cả cái chết ngon lành, cái chết của chiến sĩ, cái chết của liệt sĩ, cái chết của thánh tử đạo. Rốt cuộc, tôi thèm sống, sợ chết. Bởi tôi vừa nhận ra tôi đích thực rằng tôi chỉ là nghệ sĩ. Tôi cần sống sót. “Cậu là nhà văn, cần buôn kinh nghiệm mà bán.” Cao Dao khuyên tôi thế. Tôi cần sống sót. “Thoát chết, bung ra được là mày nên người, Duyên Anh ạ”? Đỗ Bá Thế dạy tôi thé. Nhà văn không cần thiết tử vì đạo. Vì y vô đạo. Nhà văn không cần thiết tuẫn tiết. Vì y tuẫn tiết sẽ chẳng còn ai sống để viết về những cái chết đẹp trong cõi đời. Nhà văn cần thiết có tác phẩm, và phải là tác phẩm rực rỡ kinh qua mọi sợ hãi, mọi thống khổ mỏi mòn. Nhà văn là người viết về sự sống ngoạn mục, nỗi chết phi thường của người khác, không bao giờ là kẻ trông đợi người khác viết về cái chết, nỗi chết của mình. Do đó, nhà văn bất chấp những kẻ bỉ thử mình, lăng mạ mình đủ điều về sự sống của mình. Rất tự hào và đủ quyền kiêu hãnh để nói, những kẻ bỉ thử, lăng nhục nhà văn là những kẻ không biết viết hay viết chẳng ra gì. Những kẻ này không bao giờ được phục sinh, bởi vì họ không hề có một cái gì đểà lại cho đời sống kế tiếp. Tôi là nhà văn, tôi chẳng lấy gì làm xấu hổ mà công khai nhận mình thèm sống sợ chết. Tôi đã bày tỏ thái độ của tôi rõ rệt trong bài Chút tâm sự của người làm thơ trong tù. Theo tôi, sự tồn tại khác hẳn với sự sống. Tôi chưa thấy một nhà văn chuyên nghiệp nào – nhà văn nuôi mình, nuôi vợ con mình bằng hàng tỉ chữ thao thức viết – khi chết được vinh tôn như một anh hùng, liệt sĩ. Người ta đã chỉ vinh tôn tác phẩm của nhà văn. Tôi cũng chưa thấy ai nhận trách nhiệm nuôi vợ con nhà văn, nuôi nhà văn cả, nhưng người ta cứ bắt nhà văn phải có đủ thứ trách nhiệm, đủ thứ đạo đức, đủ thứ can đảm. ..
(Còn tiếp)